Tag Archives: trà phổ nhĩ

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis)

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 1

Bạn có biết rằng từ cùng một cây trà thì chúng ta thì chúng ta có thể làm ra những loại trà khác nhau. Chính xác hơn là 7 loại trà cơ bản. Chẳng hạn như trà xanh và trà đen là đều được từ lá của cây trà. Khác nhau là cách chế biến.

Việc này giống như từ cùng một hạt gạo thì chúng ta có thể làm ra những loại thực phẩm khác nhau vậy. Từ hạt gạo thì chúng ta cơm, bún hay bánh. Chỉ khác nhau là cách chế biến. Thì lá trà cũng vậy. Từ cúng lá trà thì chúng ta sẽ làm ra được 8 loại trà.

Nếu đã có tìm hiểu về các loại trà cơ bản. Thì có thể bạn đã từng đọc về việc cây trà có 4 hoặc 5 loại trà cơ bản mà thôi. Vì có những loại giống nhau đến hơn 90% về cách làm. Nên hoàn toàn có thể xếp chung nhóm.

Tuy nhiên, nếu bạn thật sự muốn tìm hiểu sâu về trà. Thì đôi khi biết thêm vài phần trăm khác biệt của từng loại. Sẽ mang lại lợi ích lớn trong hành trình ‘chơi’ trà của bạn.

Vì khi dấn thân thật sâu vào đam mê trà thì sẽ có lúc bạn tiếp xúc với nhiều loại trà lạ. Nhưng lúc đó bạn sẽ không còn bỡ ngỡ nữa vì bạn đã được biết trước thông tin cơ bản về loại trà đó rồi.

Bạn có thấy mình gạch dưới chữ “cơ bản” không? Vì đó sẽ bản chất của thông tin mà bạn có trong bài viết này. Sẽ không có đồ thị loằng ngoằng, nhồi nhét từ ngữ mang tính hàn lâm, hay thông tin ‘vừa dài vừa buồn ngủ’ nào trong bài này.

Mà chỉ là những thứ cơ bản nhất. Một chút lịch sử, một tí xíu mô tả cách làm từng loại trà, và mình sẽ gợi ý một số loại trà mà cá nhân mình thích. (Lại phải gạch dưới để có những người đọc mà như không đọc hiểu rõ)

1. TRÀ XANH

Thường khi nhắc đến trà xanh thì nhiều người hay nghĩ đến lá trà xanh tươi. Loại lá trà tươi mà ở chợ hay siêu thị họ hay bán. Chúng ta mua về rồi nấu với nước để uống.

Thì cách dùng lá trà thuở sơ khai cũng như vậy thôi. Truyền thuyết về sự ra đời của trà cũng như vậy. Thần Nông đang ngồi nấu nước. Thì lá của một chiếc cây gần đó bị gió thổi bay vào nồi nước của ông.

Ông uống thứ nước lá này thì bỗng thấy đầu óc minh mẫn và cơ thể khoan khoái lạ thường. Và cây trà đã được tìm ra bằng cách như vậy (theo truyền thuyết là vậy). Việc chúng ta bây giờ nấu lá trà tươi với nước để uống thì cũng giống ông Thần Nông khi xưa thôi.

Lá trà ban đầu được xem là “thuốc”. Sau đó mới chuyển dịch dần sang làm “thức uống”. Để thuận lợi hơn cho việc bảo quản và vận chuyển  thì lá trà được hấp và đóng thành bánh. Mỗi khi uống thì lá trà được cạy ra, nghiền thành bột, rồi nấu với nước để uống.

Nghe rất quen đúng không? Đây chính là tiền thân bột trà xanh hay matcha mà chúng ta biết hiện nay. Thế nên bột trà xanh không có gì “mới” hay “hot trend” cả. Mà người xưa họ đã dùng trong thời gian dài rồi.

Việc lá trà khi ấy được hấp vào thời gian đó là một sáng tạo rất hay. Vì cách này giúp trà thành phần giữ phần lớn được hương vị cũng như dược tính của lá trà tươi. Chứ nếu đơn giản là chỉ phơi khô lá trà thì sẽ mất hết tính chất của lá trà tươi.

Công đoạn hấp lá trà này giúp chúng ta “diệt men” lá trà. Bạn nên nhớ kỹ từ “diệt men” này vì đây là công đoạn cực kỳ quan trọng của việc làm nên trà xanh.

“Diệt men” là công đoạn loại bỏ thành phần enzyme hay chất xúc tác giữa lá trà và oxy trong không khí. Ở đây là dùng nhiệt độ cao của quá trình hấp. Mất đi chất xúc tác này thì oxy không thể nào chuyển hoá lá trà. Và giúp cho trà thành phẩm của chúng ta có màu sắc và hương vị gần như là lá trà tươi.

diệt men

Nhược điểm của việc “diệt men” bằng cách hấp này lá lá trà vẫn còn vị ‘ngái’ của lá trà tươi. Thế nên sau này thì người xưa sáng tạo ra cách “diệt men” bằng cách xao chảo. Tức là xào lá trà tươi lên chảo nóng. Việc này giúp loại bỏ vị ‘ngái’ khó chịu này.

Và cách “diệt men” mới này vẫn còn được áp dụng đến tận ngày nay ở các nước. Như Trung Quốc hay Việt Nam. Còn Nhật Bản thì vẫn “diệt men” bằng cách hấp. Lý do họ vẫn áp dụng phương pháp cũ thì là một câu chuyện dài về lịch sử khác.

Sau công đoạn “diệt men” thì còn một số công đoạn khác để có lá trà xanh thành phẩm. Những công đoạn này cũng góp phần rất lớn vào việc tạo hương vị thơm ngon của trà xanh.

Nhiều người hay đặt câu hỏi là nên uống lá trà xanh tươi hay trà xanh khô. Câu trả lời năm ở chỗ mục đích bạn uống trà là gì. Nếu uống vì sức khoẻ thì nên uống lá trà tươi. Vì sau khi chế biến thì trà xanh khô mất khoảng 15% thành phần chống oxy hoá của lá trà tươi.

lá trà xanh tươi, lá trà xanh khô, trà xanh

Còn nếu uống thiên về thưởng thức thì nên uống lá trà khô. Vì chế biến trà không đơn thuần là biến tươi thành khô. Mà đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật và kinh nghiệm để làm nổi bật tinh tuý của trà.

Nếu thích thưởng thức trà xanh thì bạn có thể tham khảo qua Trà Xanh Thái Nguyên. Lý do mình gợi ý trà này thì rất đơn giản thôi. Nhà mình mấy đời trồng và chế biến trà ở Thái Nguyên rồi. Đối với mình thì loại trà xanh ngon nhất luôn là trà xanh Thái Nguyên.

trà đinh, trà xanh, trà thái nguyên, chè thái nguyên, trà móc câu, trà nõn tôm,

Ngoài ra bạn có thể tham khảo Trà Shan Tuyết. Cũng là nhóm trà xanh những làm từ cây trà cổ thụ. Trà xanh Trung Quốc ngon thì có Long Tỉnh hay Bích Loa Xuân. Nhật Bản thì có matcha, gyokuro hay sencha.

2. BẠCH TRÀ

Bạch trà có thể nói là loại trà đơn giản nhất. Vì đây là loại trà có ít công đoạn chế biến nhất. Theo truyền thống thì lá trà này được hái, làm héo và phơi khô.

bạch trà, trà trắng

Loại trà này được tin là ra đời ở Phúc Kiến (Trung Quốc). Chúng ta sẽ nhắc đến Phúc Kiến thêm nhiều lần nữa trong bài viết này. Vì nơi đây chính là cái nơi sinh ra rất nhiều loại cũng như nhóm trà nổi tiếng.

Cái tên ‘bạch trà’ hay ‘trà trắng’ đến từ việc loại trà này hay được làm từ lá của giống trà Đại Bạch. Búp của giống trà này được phủ bởi một lớp ‘lông trắng’. Thế nên bạch trà thành phẩm cũng có màu trắng tự nhiên.

bạch trà, trà trắng

Búp trà cũng chính là phẩm trà cao nhất của bạch trà. Hay còn được gọt là Bạch Hào Ngân Châm ở Phúc Kiến. Phẩm thấp hơn thì bao gồm búp và một số lá kế tiếp. Được gọi là Bạch Mẫu Đơn. Còn phẩm thấp nhất là lá trà già được gọi là Thọ Mi.

bạch trà, bạch mẫu đơn, tây côn lĩnh

Bạch trà không phải là loại trà chỉ có ở Phúc Kiến. Một số vùng khác cũng làm bạch trà. Như ở Vân Nam (Trung Quốc) thì trà búp họ gọi là Ngân Châm. Còn phẩm thấp hơn thì hay được đóng bánh và gọi là Nguyệt Quang.

Ở Việt Nam chúng ta cũng có làm bạch trà. Nhất là những người làm trà ở Hà Giang và Điện Biên. Họ cũng chia phẩm trà tương tự như trên. Cao nhất là búp 100%. Còn thấp hơn là xen lẫn giữa các loại trà. Chất lượng trà cũng rất tốt.

Do không trải qua công đoạn vò nên lớp biểu bì của lá bạch trà gần như là còn nguyên. Thế nên khi pha bạch trà thì bạn nên dùng nhiệt độ cao một chút. Khoảng 90 đến 100 độ C.

Một đặc tính nữa của bạch trà nữa là có thể để ‘lão’ được. Tức là có thể trữ lâu trong nhiều năm. Khoảng 10 đến 20 năm. Nhiều người tin là bạch trà để lâu thì sẽ thành “thuốc”.

Cá nhân mình đang trữ bạch trà thì thấy rằng qua thời gian thì màu nước trà đậm lên. Hương hoa dần chuyển sang hương mật. Vị trà cũng ngọt hơn. Trà khí cũng dịu đi. Còn có thành “thuốc” hay không thì không chắc.

3. HOÀNG TRÀ

Hoàng trà hay trà vàng có thể nói là loại trà ít được biết đến nhất. Bản thân mình thì cũng chỉ uống hoàng trà được vài lần trong đời. Thế nên thông tin về loại trà này thì mình cũng rất mù mờ.

Theo mình được biết thì hoàng trà về cơ bản chính là trà xanh mà thôi. Nhưng có thêm một công đoạn chế biến nữa để loại bỏ hoàn toàn vị ‘tươi’ của trà xanh.

Như đã nói ở trên thì người xưa họ không thích vị lá trà tươi. Vì vị nước trà tươi có vị ‘ngái’ và đắng. Thế nên họ mới sáng tạo ra các công đoạn chế biến để mất đi các vị này. Như xao chảo để mất vị ‘ngái’. Kết hợp với vò để làm giảm vị đắng. Nhờ vậy mà chúng ta có được trà xanh thơm ngon.

Các công đoạn hoàng trà cũng tương tự như trà xanh. Nhưng gần cuối sẽ có thêm một công đoạn nữa đó chính là hấp. Lá trà được hấp, chất thành đống nhỏ, rồi phủ kín khăn lên trên.

Lúc này môi trường nóng và ẩm ở trong đống trà này giúp lá trà ủ nhẹ trong một thời gian ngắn. Nhờ vậy giúp loại bỏ phần lớn vị ‘tươi’ và vị đắng hay thấy ở trà xanh.

Quá trình này khiến cho lá trà mất đi phần lớn chất diệp lục. Nên nước trà thay vì có màu xanh lá như trà xanh. Thì lại có màu vàng sẫm. Thế nên loại trà này mới được gọi là hoàng trà.

Bản thân mình khi uống hoàng trà thì thấy nó không khác trà xanh nhiều. Có khác một chút là hương vị nó trầm hơn. Ít vị tươi và uống ngọt hơn. Vừa giống trà xanh vừa giống một chút trà ô long.

4. TRÀ Ô LONG

Trà Ô Long được xem là loại trà phức tạp nhất. Phức tạp trong khâu chế biến. Vì đây là loại trà lên men một phần, tức là về độ len men thì loại trà này nằm giữa trà xanh và trà đen. Nên cách chế biến của loại trà này bao gồm nhiều công đoạn. Có một chút giống cách làm trà xanh, một chút giống cách làm trà đen.

Cách làm trà Ô Long khác nhau một chút giữa các vùng trà. Như ở Phúc Kiến nơi loại trà này sinh ra thì cách làm cũng đã khác nhau nhiều rồi. Khác biệt giữa Vũ Di (phía bắc Phúc Kiến) và An Khê (phía nam Phúc Kiến).

Về cơ bản thì lá trà được hái, sau đó được làm héo nắng và héo mát. Làm héo là giai đoạn mà lá trà được trải thành lớp mỏng và phơi ngoài trời và trong nhà. Mục đích của quá trình này là làm giảm lượng nước trong lá trà, làm mềm lá trà và oxy hoá nhẹ lá trà.

trà ô long, trà ô long đài loan

Sau công đoạn làm héo thì lá trà sẽ phải trải qua một công đoạn đặc trưng của riêng nhóm trà này. Đó là quay thơm. Quay thơm là công đoạn mà lá trà được cho vào một chiếc thùng hình trụ bằng gỗ. Sau đó quay đều để làm dập lá trà.

Mục đích của công đoạn này là để dịch hay chất trà tràn ra ngoài và bao phủ lá trà. Chất dịch này lại tiếp xúc với không khí và được oxy hoá nhẹ. Nhờ vậy giúp tạo nên hương vị cũng như màu sắc đặc trưng của trà Ô Long.

Công đoạn quay thơm về truyền thống thì được thực hiện khác một chút. Thay vì cho vào thùng tre và quay đều. Thì lá trà được rải đều chiếc nia bằng tre. Sau đó người làm trà sẽ lắc chiếc nia này để lá trà ma sát nhau.

Cách làm này khiến cho viền lá trà Ô Long thành phẩm sẽ có màu đỏ xung quanh lá. Tuy nhiên, hiện giờ ít nơi còn làm như vậy nữa. Vì năng suất không cao.

Sau công đoạn quay thơm sẽ là các công đoạn lên men. Lên men lại tiếp tục là một quy trình thể hiện sự phức tạp của trà Ô Long. Trà Ô Long là nhóm trà có độ lên men khoảng từ 8 đến 80%.

Về truyền thống thì trà Ô Long có độ lên men cao. Khoảng 40 đến 80%. Ngày trước thì tất cả các loại trà Ô Long đều làm theo phương pháp lên men cao kiểu Phúc Kiến. Ở Phúc Kiến và Đài Loan đều làm theo cách này.

Đến năm 1921 thì người Đài Loan họ mới khám phá ra cách để lá trà vừa có vị ngọt, lại vừa có hương hoa tự nhiên không cần ướp. Loại trà này có độ lên men thấp (khoảng 8 đến 18%). Và được đặt tên là Bao Chủng.

trà bao chủng
Trà Bao Chủng là nhóm trà Ô Long có đôj lên men thấp.

Sự ra đời của Bao Chủng tạo nên một phân khúc hoàn toàn mới, đó trà Ô Long lên men thấp. Bao Chủng lúc này được xuất đi chủ yếu đến Việt Nam và Thái Lan. Hương vị đặc trưng của Bao Chủng này khiến cho loại trà này càng ngày càng được cộng đồng quốc tế ưa chuộng.

Sự thành công của các loại trà lên men thấp đến từ Đài Loan khiến cho những người làm trà ở An Khê (Phúc Kiến) phải thay đổi cách họ làm trà. Trà Ô Long Thiết Quan Âm trứ danh thay vì được lên men cao theo kiểu truyền thống. Cũng được làm theo cách lên thấp.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 2
Trà Ô Long Thiết Quan Âm làm kiểu truyền thống (bên trái) có độ lên cao. Còn trà Thiết Quan Âm làm kiểu hiện đại (bên phải có độ lên men thấp.

Tuy nhiên, ở Phúc Kiến vẫn có một vùng trà vẫn giữ cách làm Ô Long lên men cao. Đó là Vũ Di với dòng nham trà trứ danh. Nham trà là dòng Ô Long núi đá, được gọi theo địa hình núi đá hiểm trở ở Vũ Di.

Nham trà là nhóm trà Ô Long lên men cao. Lý do Vũ Di họ không thay đổi cách làm sang trà Ô Long lên men thấp là vì thị trường xuất khẩu chính của họ là Châu Âu. Mà trà lên men cao như nham trà thì lại hợp với nước ở Châu Âu hơn nên được ưa chuộng.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 3

Trà Ô Long còn đa dạng ở thành phẩm. Loại trà này thường được thành phẩm ở 2 dạng: lá và viên. Nếu ở dạng lá thì lá sau khi xao sẽ được vò trên tấm nia bằng tre để tạo hình cánh trà cuộn tròn và dài.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 4

Nếu thành phẩm dạng viên thì ba lá trà hoặc nhiều hơn được vò thành viên trà tròn. Vò trà thành viên là kỹ thuật làm trà Thiết Quan Âm truyền thống ở An Khê (Trung Quốc). Sau đó du nhập vào Đài Loan. Rồi đến Việt Nam.

Để pha trà Ô Long thì bạn nên pha trà theo phong cách Công Phu. Cách pha này ra đời ở Phúc Kiến và Triều Sán (Quảng Đông) với mục đích là để pha trà Ô Long.

Nếu thích uống trà Ô Long ngon thì bạn có thể tìm mua trà Ô Long của Việt Nam. Các loại trà như Thanh Tâm, Kim Huyên, Tứ Quý và Thuý Ngọc đều ngon. Đây là những giống trà ngon được du nhập từ Đài Loan. Nhất là Thanh Tâm.

Thanh Tâm là một trong những giống trà đầu tiên xuất hiện ở Đài Loan. Giống này chỉ hợp ở nơi cao và khí hậu trong lành. Nên nhiều loại trà Ô Long Cao Sơn của Đài Loan được làm từ giống này.

Các giống khác đều được Đài Loan phát triển về sau này. Về mặt gen thì Tứ Quý là gần với Thanh Tâm nhất. Nhưng lại có thể phát triển ở những nơi có độ cao thấp. Kim Huyên thì có hương vị ‘ngậy béo’ như sữa nên còn gọi là Ô Long Sữa. Thuý Ngọc thì mùi hương gần gần như hoa sen và hậu vị như trái cây.

Trà Ô Long đến từ Phúc Kiến thì miễn bàn. Như nham trà của Vũ Di thì có hương vị rất đặc biệt. Như hoa dại, mật ong, trái cây, gia vị… Vì họ có cách làm trà riêng. Cộng với việc bảo tồn giống rất tốt mà người ngoài không lấy được. Còn An Khê thì có trà Thiết Quan Âm đã quá nổi tiếng rồi.

5. HỒNG TRÀ

Hồng trà còn có tên gọi là trà đen. Hồng trà là cách gọi của người Trung Quốc, vì họ gọi tên theo màu đỏ của nước trà. Còn trà đen là cách gọi của người phương Tây, họ gọi theo màu đen của cánh trà.

Về đến Việt Nam thì có lúc chúng ta gọi nhóm trà này là hồng trà. Có lúc thì gọi là trà đen. Vì chúng ta bị ảnh hưởng cách gọi của cả 2 nền văn hoá.

Cách gọi nào cũng đúng cả. Nhưng theo mình thì bạn nên gọi hồng trà là chính xác nhất. Vì cái tên ‘trà đen’ đã được dùng để gọi một nhóm trà khác có tên là ‘hắc trà’ (trà đen). Và mình sẽ giới thiệu về loại trà này ngay sau phần này.

Hồng trà là loại trà lên men cao nhất trong các loại trà. Nhiều nơi họ hay định nghĩa hồng trà là loại trà lên men hoàn toàn hay 100%. Điều này không hoàn toàn đúng.

Vì không ai biết được khi nào trà lên men đủ 100% cả. Người làm trà họ cũng chỉ ước lượng mà thôi. Ở Trung Quốc thì độ lên men của hồng trà trên dưới 90%. Còn một số nước như Ấn Độ hay Kenya thì hồng trà mới có độ lên men gần 100%.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 5
Hồng Trà Kỳ Môn – nằm trong Thập Đại Danh Trà.

Lý do mà hồng trà ở một số nước có độ lên men cao hơn Trung Quốc là do yêu cầu của thị trường. Các thị trường như Châu Âu họ thích hồng trà lên men thật cao.

Khi những lô hồng trà đầu tiên được đưa từ Trung Quốc đến Châu Âu vào thế kỷ 17 bằng thuyền. Thì hành trình kéo dài trong nhiều tháng, cộng với độ ẩm cao và nắng nóng, khiến cho các lô hồng trà bị ‘hậu lên men’ thêm. Khiến cho trà đến lúc về đến Châu Âu sẽ bị lên men nhiều hơn khi lúc còn ở Trung Quốc. Và gu hồng trà lên men thật cao ở các nước Châu Âu cũng định hình từ đây.

Do là trà lên men cao nên khâu chế biến của hồng trà xoay quanh. Mỗi nơi sẽ cách làm khác nhau, nhưng về cơ bản thì hồng trà sẽ được lên men ở 1 hoặc 2 giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất là khi lá trà vừa mới được hái sẽ được chất đống để làm héo trong khoảng nửa ngày cho đến một ngày. Ở giai đoạn này thì lá trà sẽ lên men rất nhiều. Tuỳ theo thời gian mà độ lên men có thể đạt khoảng 85 – 90%.

Hồng trà còn có một giai đoạn lên men nữa sau khi vò. Có nơi họ lên men lần hai còn có nơi thì không. Trà cũng được chất đống và ủ lên men cho đến gần 100% hoặc đến mức mong muốn của người làm trà.

Hồng trà là nhóm trà tiết hương vị chậm khi pha hơn các loại trà ít lên men hoặc không lên men như trà Ô Long hay trà xanh. Để đạt năng xuất cao và giúp hồng trà tiết hương vị hiểu quả cao hơn thì công nghệ chế biến trà CTC (Cut Tear Curl) ra đời vào năm 1930 ở Ấn Độ.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 6
Hồng trà làm theo phương pháp CTC.

Về cơ bản thì lá trà được băm nhỏ và ủ lên men bằng máy. Nhờ vậy mà năng suất sản xuất cao và trà khi pha thì chất trà tiết ra rất nhanh. Các loại hồng trà chuyên để pha chế hay trà túi lọc đều làm theo phương pháp này.

Còn nếu muốn uống hồng trà ngon theo kiểu thưởng thức thì bạn nên tìm mua hồng trà làm theo cách truyền thống. Ở Việt Nam thì mình đã uống qua hồng trà của những người làm Ô Long ở Bảo Lộc. Hương vị chocolate, trái cây khô và mật ong là điểm nhấn của hồng trà ở đây.

Những người ở vùng trà Shan tuyết ở Tây Bắc thì lại làm hồng trà từ cây trà cổ thụ. Hương vị chính là mạch nha, mật ong và trái cây khô. Mỗi vùng mỗi vẻ và chất lượng đều cao cả.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 7
Hồng trà Shan Tuyết Cổ Thụ

Nếu thích uống hồng trà của Trung Quốc thì bạn có thể tham khảo núi Vũ Di (Phúc Kiến) và Phượng Hoàng (Quảng Đông). Các nhóm trà như Kim Tuấn Mi (búp) và Chánh San Tiểu Chủng (lá) ở Vũ Di. Hồng trà Đơn Tùng ở núi Phượng Hoàng.

6. HẮC TRÀ

Và bây giờ chúng ta sẽ đến với ‘trà đen’ thật sự. Hắc trà là loại trà được tạo ra bởi quá trình ‘hậu lên men’. Trong khi lên men nằm trong quá trình chế biến trà thành phẩm. Thì ‘hậu lên men’ là đem trà đã thành phẩm rồi đi lên men.

Hắc trà vốn dĩ chính là trà xanh thành phẩm. Trà xanh được đem đi ‘hậu lên men’ để tạo nên hắc trà. Quá trình này bao gồm việc trà được chất đống và ủ ướt. Trà được chất thành đống rồi phun nước. Sau đó đậy lớp chăn bên trên.

Lúc này môi trường bên trong đống trà cực kỳ thuận lợi cho các nhóm vi sinh vật sinh sôi và phát triển. Những nhóm vi sinh vật này chuyển hoá các thành phần hoá học của trà. Nhờ vậy mà màu sắc cũng như hương vị trà thay đổi.

Đọc đến đoạn này bạn sẽ nghĩ là cách làm hắc trà cũng giống với hồng trà. Tuy nhiên, quá trình lên men của hồng trà là do tác động phần lớn đến từ oxy. Còn quá trình lên men của hắc trà là do vi sinh đóng vai trò chủ đạo. Cộng với một phần là do độ ẩm và nhiệt độ.

Mục đích của quá trình ‘hậu lên men’ là để mô phỏng lại quá trình trà để lâu qua thời gian. Trà xanh khi để lâu nhiều năm sẽ ‘lão’ đi. Và hương vị sẽ chuyển từ tươi xanh và đắng chát, sang ngọt ngào và dịu dàng.

Thay vì phải đợi hàng chục năm để trà xanh có thể ‘lão’ đến mức như vậy. Thì quy trình ‘hậu lên men’ này có thể rút ngắn quá trình ‘lão’ này chỉ trong vài chục ngày.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 8

Nhiều người sẽ tự hỏi là trà mới không uống. Lại đi uống cái trà bị ép thành trà cũ như vậy. Nhưng đây là gu uống trà của rất nhiều người ở Trung Quốc và Tây Tạng.

Tây Tạng có một thời là thị trường xuất khẩu trà số một của Trung Quốc. Những bánh trà xanh đi theo con đường vận trà tên là Trà Mã Đạo sang Tây Tạng. Do vận trà bằng sức động vật và cả người nữa nên trà đến Tây Tạng phải mất vài tháng và cả năm.

Bánh trà xanh mất nhiều thời gian, rồi trải qua bao nhiều là nắng gió, mới đến được Tây Tạng. Khi đến nơi thì bánh trà bị cũ đi nhiều. Mà thế nào các nhà sư và người dân ở Tây Tạng lại thích vị cũ này hơn.

Có cung thì ắt có cầu. Tây Tạng lúc này lại là khách hàng chính. Nên người làm trà đã sáng tạo ra cách làm trà nhanh cũ đi. Thế là hắc trà ra đời.

Hiện nay thì ở Trung Quốc có một số vùng làm hắc trà nổi tiếng. Một số dòng nổi tiếng mà mình đã từng uống qua bao gồm hắc trà của các tỉnh: Liêu Ninh, Hà Bắc và Hà Nam (của Trung Quốc).

Hắc trà có thể ở dạng trà rời, được để trong sọt tre. Mỗi sọt có thể cả ký hay vài ký. Hoặc trà có thể được đóng ở dạng bánh. Một bánh có thể gần cả ký hay một đòn dài vài chục kg.

hắc trà

Những dạng trà ‘lão’ như hắc trà có thể sẽ có Kim Hoa. Kim Hoa là một dạng nấm có màu vàng. Loại nấm này được tin có nhiều tác dụng tốt và hiếm khi xuất hiện trên bánh trà. Bên bánh trà nào có Kim Hoa xuất hiện thường rất quý.

Tuy nhiên, nắm bắt tâm lý thích Kim Hoa thì người làm trà cũng đã nuôi được loài nấm này. Sau đó cấy bào tử nấm Kim Hoa lên hắc trà để nắm phát triển. Sau đó họ sấy khô cả trà lẫn Kim Hoa.

Nên khi mua hắc trà thì bạn sẽ thấy có những bánh hắc trà tràn ngập Kim Hoa. Thì đây là Kim Hoa được thêm vào. Còn Kim Hoa xuất hiện tự nhiên thì rất hiếm. Nó cũng chỉ mọc thành những đốm nhỏ trên trà chứ không mọc dày và tràn lan.

Hắc trà có vị ngọt. Nước trà rất sệt. Hương thì trộn lẫn giữa cây thuốc, trái cây khô và vị cũ (nhà cũ, đồ vật cũ). Nói chung gu trà này có lẽ không hợp lắm với khẩu vị người Việt. Nên thấy cũng ít nơi bán hắc trà.

7. TRÀ PHỔ NHĨ

Trà Phổ Nhĩ là một nhóm trà được làm từ lá của cây trà cổ thụ. Hay còn được gọi là trà Shan Tuyết hay trà lá to (Đại Diệp Trà). Giống trà này hay mọc ở các vùng núi của Vân Nam (Trung Quốc), Việt Nam, Lào và Myanmar.

Cái tên Phổ Nhĩ bắt nguồn từ thành phố Phổ Nhĩ (ở Vân Nam). Khi xưa thì thị trấn Phổ Nhĩ là trung tâm mua bán và trao đổi trà giữa thương nhân và người làm trà.

Thị trấn Phổ Nhĩ không trồng trà. Nhưng những người làm hay buôn trà ở những vùng xung quanh thường đem trà đến đây để mua bán. Nên lúc này thì trà ở các vùng ở Vân Nam được gọi chung trà Phổ Nhĩ.

Nơi đây cũng là nơi bắt đầu con đường vận trà nổi tiếng, có tên là Trà Mã Đạo. Trà Mã Đạo là con đường buôn bán giống như Con Đường Tơ Lụa. Nhưng ngắn hơn và ít nổi tiếng hơn.

Trà Mã Đạo kết nối giữa Vân Nam với Tây Tạng và Tứ Xuyên. Hệ thống đường này giúp trao đổi nhiều loại hàng hoá. Nhưng nổi bật nhất là trà và ngựa (mã) nên được gọi là Trà Mã Đạo.

trà phổ nhĩ

Trà Phổ Nhĩ có cách làm gần giống với trà xanh. Các công đoạn thì y như trà xanh nhưng mỗi bước lại khác đi một chút. Như ‘diệt men’ thì trà xanh là ‘diệt men’ hoàn toàn. Còn trà Phổ Nhĩ là ‘diệt men’ không hoàn toàn.

Người làm trà Phổ Nhĩ sẽ không loại bỏ hoàn toàn men hay enzyme trên lá trà. Lá trà Phổ Nhĩ vẫn còn sót lại một phần nhỏ một loại men có tên là polyphenol oxidase (PPO).

PPO cùng với oxy và các vi sinh vật còn sót lại trên lá trà sẽ giúp lá trà chuyển hoá tốt hơn khi để lâu. Trà Phổ Nhĩ có thể để lâu lên đến hàng chục năm. Và Trà Phổ Nhĩ Lâu Năm thường sẽ có giá cao hơn là khi trà còn mới.

Mao trà là dạng trà thành phẩm dạng thô của trà Phổ Nhĩ. Khi mao trà này được đem thì ép thành bánh thì được gọi là Phổ Nhĩ Sống. Còn khi đem mao trà này đi ‘hậu lên men’ thì chúng ta có Phổ Nhĩ Chín.

7 Loại Trà Cơ Bản Từ Cây Trà (Camellia Sinensis) 9

Từ phần hắc trà ở trên thì chúng ta lại gặp lại cụm từ ‘hậu lên men’. Hậu lên men là khi chúng ta đem trà đã thành phẩm rồi đi lên men. Ở đây thì chúng ta đem mao trà (trà Phổ Nhĩ thành phẩm thô) đem đi lên men.

Cũng giống như hắc trà thì trà Phổ Nhĩ Chín cũng có cách làm tương tự. Trà được chất đống, phun nước, rồi phủ chăn lên trên. Tạo nên môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển.

Mục đích của quá trình này là mô phỏng lại quá trình trữ trà lâu năm trong một thời gian ngắn. Nhờ vậy mà chúng ta có được một loại trà có hương vị gần giống với trà Phổ Nhĩ Lâu Năm.

Nghiên cứu cho thấy đúng là Phổ Nhĩ Chín có thành phần hoá học gần giống với Phổ Nhĩ Lâu Năm. Cho nên hương vị loại trà này cũng hao hao như Phổ Nhĩ Lâu Năm.

Tuy nhiên, giá trị và hương vị của Trà Phổ Nhĩ Lâu Năm vẫn xếp hàng trên. Vì dù giỏi đến đâu thì không người làm trà nào có thể mô phỏng chính xác được sự chuyển hoá tự nhiên trong hàng chục năm của Phổ Nhĩ Lâu Năm được.

Để trữ trà Phổ Nhĩ và giúp trà chuyển hoá tốt nhất thì bạn cần để ý đến 4 yếu tố sau: thoáng mát, nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng. Điều kiện trữ trà Phổ Nhĩ trung tính nhất là độ ẩm khoảng 70%, nhiệt độ khoảng 25 độ C, trà để ở nơi thoáng mát và ít sáng.

Việt Nam luôn có độ ẩm và nhiệt độ cao. Trữ trà Phổ Nhĩ trong điều kiện thời tiết của nước ta được gọi là ‘trữ ướt’. Khi ‘trữ ướt’ thì trà sẽ chuyển hoá nhanh. Những vùng trữ trà Phổ Nhĩ nhiều như Quảng Đông, Hồng Kông hay Malaysia đều thuộc nhóm trữ ướt.

Ngược lại với ‘trữ ướt’ chính là ‘trữ khô’. ‘Trữ khô’ là khi trà Phổ Nhĩ được trữ ở nơi có nhiệt độ thấp và độ ẩm thấp. Lúc này trà Phổ Nhĩ sẽ chuyển hoá một cách rất từ tốn. Những nơi ‘trữ khô trà Phổ Nhĩ nhiều phải kể đến Côn Minh (tỉnh Vân Nam) và Đài Loan.

Về trà Phổ Nhĩ thì Vân Nam là nơi có nhiều vùng trà danh tiếng nhất. Chất lượng trà của những vùng này thì miên bán. Trà thì rất ngon và giá cũng rất đắt. Do đắt đỏ nên những vùng trà nổi tiếng bị nhái rất nhiều. Bán tràn lan cả ở Việt Nam.

Cây trà cổ thụ cũng có mọc ở Việt Nam. Và người làm trà ở nước ta cũng có làm Phổ Nhĩ. Nguyên liệu và cách làm tương tự như ở Vân Nam. Mình đã uống qua trà Phổ Nhĩ từ Hà Giang, Điện Biên và Yên Bái. Chất lượng cao và trữ lâu thì trà cũng chuyển hoá rất tốt.

Kim Hoa Trong Trà Phổ Nhĩ – Có Thật Sự Quý?

kim hoa

Có một ngày mình ghé tiệm trà quen để mua một loại trà Phổ Nhĩ đã hơn 30 năm tuổi. Giá hơn 5 triệu một bánh 100g. Về tầm đâu khoảng trăm bánh nhưng ‘dân chơi’ trà đã mua gần hết.

Những người sưu tầm đòi mua hết. Họ toàn mua vài chục bánh cùng lúc. Nhưng anh chủ không chịu. Vì muốn để dành một ít cho những anh em chơi trà thân quen khác. Trong đó có mình.

Mình chỉ mua có 2 bánh mà thôi. Và anh chủ tốt bụng còn mở giấy gói từng bánh ra để kiếm bánh nào nhiều “kim hoa” nhất để đưa cho mình. Mặc dù không phải là khách VIP gì nhưng anh em chơi thân nên mình được ưu tiên.

Nếu có dấn thân vào việc uống và sưu tầm Trà Phổ Nhĩ. Thì bạn sẽ nghe đến cụm từ “kim hoa”. Trà Phổ Nhĩ mà có kim hoa được xem là rất quý. Càng nhiều càng tốt. Vậy kim hoa là gì mà khiến người sưu tầm trà mê mẩn đến vậy?

KIM HOA LÀ GÌ?

Nếu mở một bánh trà Phổ Nhĩ lâu năm. Mà bạn thấy có những hạt vàng nhỏ li ti trên bề mặt lá trà. Thì xin chúc mừng bạn đã mua được hay trữ được một bánh trà có Kim Hoa.

Kim Hoa về cơ bản là một loại bào tử nấm có tên khoa học là Eurotium cristatum. Loại nấm này có màu vàng tự nhiên nên được gọi là Kim Hoa hay ‘hoa vàng’.

kim hoa
Kim hoa hay được cấy lên hắc trà.

Khi xưa thì Kim Hoa được xem là một loại thảo dược quý và hiếm chỉ mọc trên gỗ mục. Và trong một số ít trường hợp là trên bánh trà xuất từ Vân Nam đến Tây Tạng và Mông Cổ.

Các dược liệu quý như nấm Linh Chi hiện nay đều trồng được. Và Kim Hoa thì cũng vậy. Hiện nay thì loài nấm này cũng được trồng với mục đích là cấy vào những bánh ‘hắc trà’.

Từ ‘hắc trà’ còn khá xa lạ với rất nhiều người. Thế nhưng đây là một nhóm trà được ưa chuộng ở một số vùng của Trung Quốc. Và đây được xem là một trong những nhóm trà chính của cây trà.

Về cơ bản thì từ cùng một cây trà thì chúng ta có thể làm ra các loại trà khác nhau. Thường thì các tài liệu trên mạng họ hay liệt kê 5 loại trà cơ bản, đó là:

  1. Trà xanh
  2. Bạch Trà
  3. Trà Ô Long
  4. Trà Đen
  5. Trà Phổ Nhĩ

Thế nhưng trong thế giới trà còn 2 loại nữa ít được biết đến là ‘hoàng trà’ (trà vàng) và ‘hắc trà’. Hắc Trà về cơ bản là một nhóm trà lên men được đóng thành bánh. Để làm ra loại trà thì cần đến 12 bước. Dài hơn tất cả các loại trà khác. Và một trong số này đó chính là cấy Kim Hoa lên trà.

Người làm trà sẽ cấy bào tử nấm Kim Hoa lên trà lúc ẩm. Sau đó để loài nấm này phát triển hoàn thiện. Rồi sau đó bánh trà cùng với nấm được sấy khô và ép lại thành bánh.

Mục đích của việc thêm Kim Hoa là để loài nấm này giúp trà ngon hơn. Đòng thời Kim Hoa được tin là có một số tác dụng tốt cho sức khoẻ. Nhờ vậy mà bánh ‘hắc trà’ càng nhiều Kim Hoa thì lại càng đắt.

Chính vì vậy khi mua một bánh hắc trà thì khi tách đôi bánh trà sẽ hay thấy Kim Hoa mọc lấm tấm ở giữa. Mình hay nói vui bánh ‘hắc trà’ có Kim Hoa giống như bánh mì sandwich kẹp bơ ở giữa vậy.

Nếu Kim Hoa dễ trồng vậy thì có quý không? Tất nhiên là vẫn quý rồi. Vì một bánh trà Phổ Nhĩ lâu năm mà có Kim Hoa là rất quý. Vì đây là Kim Hoa xuất hiện tự nhiên chứ không có sự tác động của con người.

Kim Hoa Trong Trà Phổ Nhĩ - Có Thật Sự Quý? 10
Kim Hoa xuất hiện rải rác ở trên bánh trà Phổ Nhĩ sản xuất năm 1990 của mình (để ý góc gần ngón tay cái).

Cũng giống như nấm Linh Chi có trong tự nhiên bao giờ cũng đắt và quý. Mặc cho nấm Linh Chi đã được tròng ở nhiều nơi. Nhưng nấm mọc tự nhiên vẫn luôn đắt đỏ.

TÁC DỤNG CỦA KIM HOA

Làm cho trà ngon hơn

Quay lại với câu chuyện mình mua 2 bánh Phổ Nhĩ hơn 30 năm tuổi ở đầu bài. Đúng là trà đắt thật nhưng mình thấy rất xứng đáng vì trà thật sự quá ngon và xứng đáng sưu tầm.

Lý do trà ngon có phải là do nó có nhiều Kim Hoa hay không thì bản thân mình cũng không tự trả lời được. Vì phải có một bánh trà y như vậy, nhưng lại không có Kim Hoa, thì mới pha so sánh chính xác được.

Nhưng mình có sưu tầm một số bánh ‘hắc trà’ thì thấy rằng bánh có Kim Hoa lúc nào cũng ngọt nước và thơm hơn. Cùng một bánh trà, thì khi pha trà tách ra từ phần có nhiều Kim Hoa, vị cũng ngọt hơn.

Điều này được chứng minh qua một nghiên cứu mà mình tìm thấy. Trong nghiên cứu này thì các nhà khoa học cấy Kim Hoa lên trà xanh vụ thu. Vì trà vụ thu có hương vị không tốt như trà xuân. Nên họ nghiên cứu tìm cách giúp cải thiện hương vị cho trà vụ thu.

Kết quả cho thấy Kim Hoa đúng là có giúp trà ‘ngon hơn’. Bằng cách làm tăng hương hoa, và làm giảm vị chát của trà. Bằng cách làm tăng tự nhiên thành phần terpineol (thành phần mùi hay có trong nước hoa) và giảm polyphenol (giảm đắng chát) có trong trà.

Kim Hoa Trong Trà Phổ Nhĩ - Có Thật Sự Quý? 11

Tác dụng tốt cho sức khoẻ

Ngoài khả năng giúp trà ngon hơn. Thì Kim Hoa được xem là quý vì được tin là có một số tác dụng tốt cho sức khoẻ. Nhưng theo mình thấy thì bạn nên uống trà vì nó ngon. Hơn là vì nó tốt.

Tốt nhất là đừng bao giờ quá tin vào những lời quảng cáo của những trang bán trà. Tác dụng thì tự nghĩ ra mà không hề trích dẫn một tí bằng chứng nào. Trà nào cũng ngừa ung thư, trà nào cũng trị đủ thứ bệnh mà không hề có tí căn cứ nào.

Bạn chỉ nên xem việc uống trà là một phần của chế độ ăn uống lành mạnh. Và uóng trà chỉ góp phần vào việc tăng cường sức khoẻ của bạn mà thôi. Nếu xem trà là ‘thần dược’ thì chỉ có mất tiền mà thôi. Trong khi đó có những thứ miễn phí mà vẫn giúp bạn có sức khoẻ tốt hơn, đơn giản như đi bộ chẳng hạn.

Khi ăn những thực phẩm đã lên men thì sẽ giúp kích thích những vi khuẩn tốt trong đường ruột. Như ăn dưa chua hay kim chi. Đối với các loại trà lên men như hồng trà, Phổ Nhĩ chín hay hắc trà thì cũng có tác dụng tương tự.

Việc có một hệ tiêu hoá tốt cũng sẽ giúp ngừa béo phì. Trong một nghiên cứu trên dộng vật thì các nhà khoa học nhận thấy Kim Hoa đóng vai trò như một nấm men tự nhiên (probiotic).

Kim Hoa giúp kích thích những vi khuẩn tốt trong đường ruột phát triển. Nhờ vậy có thể giúp tăng cường hệ tiêu hoá. Nhờ vậy góp phần ngừa béo phì và cải thiện khả năng dung nạp glucose (hỗ trợ bệnh tiểu đường).

Kim Hoa Trong Trà Phổ Nhĩ - Có Thật Sự Quý? 12

Ngoài nghiên cứu kể trên thì mình không tìm thấy nghiên cứu nào thực hiện chi tiết về tác dụng của Kim Hoa cả. Đa phần là nói theo phong cách y học cổ.

Chẳng hạn như lá lách có màu vàng nên Kim Hoa cũng có màu vàng được thêm vào để khi uống tốt cho tì vị. Rồi hắc trà được thu hoạch vào mùa hè nên trà có dương khí tốt nhất trong năm.

Mình cũng chẳng phải chuyên gia dinh dưỡng gì. Nhưng theo mình tìm hiểu nhiều thì thấy rằng những dạng trà ‘hậu lên men’ như Phổ Nhĩ chín hay hắc trà không nên uống quá thường xuyên.

Vì quá trình ‘lên men’ làm nên những trà này tạo ra những thay đổi quá lớn về mặt hoá học cho lá trà. Cả về tốt lẫn xấu. Ngoài ra thì khí hậu Việt Nam quá ẩm. Rất thích hợp để trà phát triển nhanh khi trữ lâu năm. Nhưng có nhiều người vẫn trữ chưa đúng cách dẫn đến việc một số loại nấm không tốt khác xuất hiện trên bánh trà.

Trà Phổ Nhĩ Quýt: 4 Điều Cơ Bản Nên Biết

trà phổ nhĩ quýt

Bài hôm nay mình sẽ viết về Trà Phổ Nhĩ Quýt (hay còn gọi là Tiểu Cam Thanh). Cũng là một nhóm trà Phổ Nhĩ yêu thích của mình. Cứ mỗi lần mà mình hơi bị ngứa họng hay hơi cảm một chút thì cứ làm một ấm là hết ngay.

Bạn cần lưu ý là mình không kinh doanh loại trà này. Phổ Nhĩ Quýt là loại trà của Vân Nam (Trung Quốc). Còn mình chỉ kinh doanh trà của Việt Nam mà thôi.

TRÀ PHỔ NHĨ QUÝT LÀ GÌ?

Trà Phổ Nhĩ Quýt là sự kết hợp giữa trà Phổ Nhĩ Chín và vỏ quýt hay vỏ cam khô (hay còn gọi là Trần Bì). Trước tiên chúng ta cần điểm sơ qua về trà Phổ Nhĩ.

Trà Phổ Nhĩ là một nhóm trà được làm từ lá của cây trà Shan Tuyết hoang dã hay còn gọi là trà cổ thụ. Trà Phổ Nhĩ được chế biến thành 2 dạng là Trà Phổ Nhĩ Sống và Trà Phổ Nhĩ Chín. Trong đó thì Trà Phổ Nhĩ Chín là thường hay được kết hợp với vỏ quýt nhất.

Trà Phổ Nhĩ Chín là loại trà lên men. Hay nói một cách chính xác hơn thì loại trà này phải trải qua quá trình ‘hậu lên men’. Quá trình này giúp đẩy nhanh quá trình ‘lão hoá’ của lá trà. Nhờ vậy mà Phổ Nhĩ Chín có hương vị gần giống như trà Phổ Nhĩ được cất trữ hàng chục năm.

Trà Phổ Nhĩ Chín có nhiều phân hạng khác nhau. Hạng cao nhất của loại trà này được gọi là Cung Đình. Hạng trà Cung Đình có cánh trà nhỏ nên có thể dễ dàng được nhồi vào bên trong vỏ quýt khô.

trà phổ nhĩ quýt

Vỏ quýt khô hay còn gọi là Trần Bì là một vị thuốc trong Đông Y. Ngoài ra thì vỏ quýt còn hay được sử dụng trong nấu nướng và để làm bánh kẹo nữa. Mứt Trần Bì chua chua ngọt ngọt chắc hẳn năm trong ký ức tuổi thơ của nhiều người thuộc thế hệ 8x hay 9x đời đầu.

Để làm Trà Phổ Nhĩ Quýt thì thường người làm trà sẽ nhét trà vào bên trong trái quýt tươi đã bỏ ruột. Sau đó mới đem đi sấy khô cả trà lẫn vỏ quýt. Gọi là Phổ Nhĩ Quýt nhưng hiện nay vỏ quả cam cũng được sử dụng làm trà. Nhất là giống Cam Sành của Việt Nam được trồng rất nhiều ở tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

Trà Phổ Nhĩ Quýt càng để lâu thì càng ngon và càng quý. Vì cả Trà Phổ Nhĩ lẫn Trần Bì khi để ‘lão’ thì rất quý và rất đắt đỏ.

TÁC DỤNG CỦA TRÀ PHỔ NHĨ QUÝT

Tác dụng của Trà Phổ Nhĩ Quýt bao gồm:

  • Trị ho – viêm họng
  • Giảm đầy bụng – khó tiêu
  • Ngừa béo phì – tiểu đường loại 2

Tác dụng của Trà Phổ Nhĩ Quýt tất nhiên là đến từ 2 thành phần Trà Phổ Nhĩ là Trần Bì rồi. Mỗi thành phần thì tốt một kiểu. Thế nhưng bạn cũng không nên dùng loại trà này là một loại thuốc trị bệnh. Mà đơn giản là nó thơm ngon nên mình uống thôi.

Cả Trà Phổ Nhĩ và vỏ quýt đều có tính nóng. Thế nên uống Trà Phổ Nhĩ Quýt vào những ngày lạnh thì rất tuyệt. Không chỉ cơ thể ấm hơn mà còn giúp ngừa các bệnh hay gặp ở mùa lạnh như ho, cảm hay viêm họng.

Trong Đông Y thì Trần Bì hay được dùng để làm thuốc để trị các triệu chứng ho. bài thuốc trị ho quen thuộc chính là trần bì sắc với nước đường. Bạn cứ ra nhà thuốc mua siro trị ho của Việt Nam mình sản xuất thì kiểu gì cũng thấy trong thành phần có Trần Bì.

trà phổ nhĩ quýt

Ngoài ra thì vỏ quýt cũng có thể giúp ngừa béo phì và bệnh tiểu đường loại 2. Trong một nghiên cứu trên động vật vào năm 2020 thì các nhà khoa học nhận thấy trong Lão Trần Bì (vỏ quýt để lâu năm) có thành phần giúp ngừa béo phì và bệnh tiểu đường loại 2.

Trà Phổ Nhĩ cũng có thể giúp ngừa béo phì. Một nghiên cứu trên động vật khác vào năm 2021 cho thấy Trà Phổ Nhĩ Chín có khả năng giúp thúc đẩy một số vi khuẩn ‘tốt’ và giảm hoạt động các vi khuẩn ‘xấu’ trong đường ruột. Nhờ vậy mà cũng hỗ trợ ngừa béo phì.

Nhắc đến dường ruột thì vỏ quýt cũng được xem là một vị thuốc giúp giảm đầy bụng cũng như hỗ trợ viêm loét dạ dày. Thế nên sau khi ăn quá no và thấy chướng bụng thì bạn cũng nên làm một ấm Trà Phổ Nhĩ Quýt.

CÁCH PHA TRÀ PHỔ NHĨ QUÝT

Khi mua trà Phổ Nhĩ Quýt thì bạn sẽ mua từng trái một. Một trái tầm 30 đến 50g. Nếu uống khoẻ thì bạn có thể bẻ đôi quả quýt này ra và pha mỗi lần nửa trái. Còn mình thì thích bẻ nhỏ quả quýt ra rồi pha mỗi lần tầm vài gram mà thôi.

Để pha Trà Phổ Nhĩ Quýt thì bạn nên pha trà với nước sôi nhất có thể. Vì cả Phổ Nhĩ Chín lẫn vỏ quýt đều cần nhiệt độ cao để có thể chiết được hết thành phần hương vị.

Trà Phổ Nhĩ Quýt: 4 Điều Cơ Bản Nên Biết 13

Cá nhân mình thì mình hay dùng ít trà và hãm lâu một chút. Vì nếu bạn mua Trà Phổ Nhĩ Quýt loại tốt thì cực kỳ dai nước luôn. Nếu pha nhanh kiểu Công Phu thì có mà uống hàng chục nước cũng chưa hết. Như vậy thì quá no và không thể nào uống hết được.

Mình thì hay dùng khoảng tầm 5 đến 6g trà cho ấm tầm 150ml. Pha nước một hãm chừng 1 phút. Nước hai thì hãm khoảng 30s. Nước ba thì lại hãm 1 phút. Các nước sau thì hãm dài ra chừng vài phút.

Hãm lâu vậy nhưng bảo đảm là nước trà không đậm đâu. Vì lượng trà thật chỉ khoảng 3g mà thôi. Còn lại là toàn vỏ quýt. Nên đối với người uống nhạt như mình như vậy thì vừa. Còn nếu muốn đậm đà thì bạn nên pha nhiều trà hơn.

trà phổ nhĩ quýt

Có điều bạn nên lưu ý trước khi pha là nên tráng trà 2 lần. Vì trong Trà Phổ Nhĩ Chín thường có một thành phần tên là patulin. Đây là thành phần không tốt cho sức khoẻ và có cả ở táo hay nước ép táo. Theo khuyến cáo của FDA thì hấp thụ một lượng cho phép thành phần này không sao cả. Tuy nhiên, để giảm thành phần này thì pha trà thì bạn nên tráng trà 2 lần.

Trước giờ chưa có ghi nhận trường hợp nào ngộ độc do uống trà Phổ Nhĩ cả. Nên bạn cũng không cần lo lắng. Quan trọng nhất là tìm mua Trà Phổ Nhĩ Quýt chất lượng một chút. Vì loại tốt thường sẽ có giấy kiểm định của Trung Quốc. Ngoài ra thì nên nhớ là luôn tráng trà khi uống trà Phổ Nhĩ Chín.

Trà Phổ Nhĩ: 5 Điều Cơ Bản Nên Biết

trà phổ nhĩ

TRÀ PHỔ NHĨ LÀ GÌ?

Cái tên Phổ Nhĩ bắt nguồn từ một thị trấn cùng tên ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Vào hàng nghìn năm trước thì thị trấn Phổ Nhĩ vốn là một trung tâm mua bán trà. Đây là nơi mà trà trồng ở các vùng của Vân Nam được mang đến để bán.

Chính vì vậy mà trà được làm ở Vân Nam đều được gọi là Phổ Nhĩ Trà. Sau Cách Mạng Văn Hoá thì thành phố Phổ Nhĩ được đổi tên là Tư Mao vào năm 1950.

Nhưng do cơn sốt trà Phổ Nhĩ nên vào năm 2007 thì chính quyền địa phương đã đổi về tên cũ là Phổ Nhĩ. Và cái tên này vẫn còn giữ mãi đến tận ngày nay.

trà phổ nhĩ

Yếu tố thứ hai giúp định nghĩa trà Phổ Nhĩ đó chính là nguyên liệu làm nên trà. Trà Phổ Nhĩ được làm từ lá của giống trà cổ thụ hoang dã. Giống trà cổ thụ này có 2 nhóm chính. Nhóm đầu tiên có lá trà to và một thân to chính. Còn nhóm thứ hai có lá nhỏ, nhiều thân nhỏ mọc lên từ một gốc.

Mua trà Phổ Nhĩ Việt Nam:

Phần lớn trà Phổ Nhĩ được làm từ nhóm trà lá to hay Đại Diệp Trà. Nhưng vẫn có một số ít được làm từ giống trà lá nhỏ. Hay còn được giới yêu trà Phổ Nhĩ gọi là Phổ Nhĩ Kim (hay Phổ Nhĩ lá nhỏ).

Nguyên liệu làm nên trà Phổ Nhĩ được phân định theo tuổi cây trà và vùng miền. Tuổi trà được phân thành 3 nhóm. Nguyên liệu từ cây trà hàng trăm năm tuổi được phân nhóm là Cổ Thụ. Cây trà hàng chục năm tuổi được gọi là Đại Thụ. Còn nhóm trà ít tuổi mới được trồng được gọi là Thai Địa Trà.

Trà Phổ Nhĩ: 5 Điều Cơ Bản Nên Biết 15

ĐẶT MUA TRÀ PHỔ NHĨ VIỆT NAM ➜

Để được gọi là Cổ Thụ thì cây trà phải ít nhất 100 năm tuổi. Và tất nhiên thì chất lượng nguyên liệu Cổ Thụ bao giờ cũng vượt trội hơn nhiều so với những nhóm trà ít tuổi hơn.

Và một yếu tố quan trọng khác giúp định nghĩa giá trị của nguyên liệu trà Phổ Nhĩ đó là vùng miền. Ở Vân Nam có những làng mà trà Phổ Nhĩ của họ đắt hơn rất nhiều lần những nơi khác.

Yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, vi khí hậu, nguồn nước, hệ vi sinh vật khiến cho trà Phổ Nhĩ ở một vùng có hương vị đặc biệt hơn hẳn các vùng khác. Cộng với việc những người yêu trà săn lùng thì giá trị trà Phổ Nhĩ ở vùng đó càng được đẩy lên chóng mặt.

Tất nhiên là sẽ luôn có sự ‘gian dối’ diễn ra. Trà đến từ vùng trà ít tiếng tăm mạo danh vùng nổi tiếng. Rồi cả trà ít tuổi được đóng mác là trà Cổ Thụ.

Vì vậy mà người yêu dòng trà Phổ Nhĩ cần trang bị đầy đủ kiến thức và đủ trải nghiệm để có thể phân định được thế nào là chất Cổ Thụ. Hay chất riêng của vùng trà danh tiếng nào đó.

CÔNG ĐOẠN LÀM MAO TRÀ

Trước khi có những bánh trà đẹp đẽ, trước khi có Phổ Nhĩ sống hoặc chín, thì mọi loại trà Phổ Nhĩ đều bắt đầu từ ‘mao trà’. Mao trà hay ‘trà thô’ là một dạng trà thành phẩm từ lá trà cổ thụ.

trà phổ nhĩ, mao trà

Lá trà cổ thụ sau khi hái sẽ được ‘diệt men’, vò và làm khô. Lý do ‘mao trà’ được gọi là trà thô vì những lá trà này chưa là trà Phổ Nhĩ hoàn chỉnh. ‘Mao trà’ được ép thành bánh để thành Phổ Nhĩ sống, hoặc được ủ lên men rồi đóng thành bánh Phổ Nhĩ chín.

Các công đoạn làm nên mao trà:

1. Làm héo

Lá trà sau khi hái sẽ được rải đều lên những chiếc nong bằng tre để ‘héo’. Mục đích của việc làm héo là khiến cho lá trà bị mất nước, qua đó lá trà sẽ dẻo dai hơn. Nhờ vậy mà khi vò thì lá trà sẽ đỡ rách và nát hơn.

Công đoạn làm héo được theo dõi rất kỹ bởi người làm trà. Vì không ai muốn lá trà vô tình bị oxy hoá quá nhiều cả. Lá trà thường được làm héo ngoài trời hoặc khu vực thoáng khí trong nhà.

2. Diệt men

Diệt men là giai đoạn mà ‘men’ hay enzyme trong lá trà được loại bỏ. Bằng cách xao lá trà trên chảo nóng. Nhờ vậy mà các thành phần tạo nên hương vị của lá trà không bị chuyển hoá bởi oxy trong không khí. Ngoài ra thì giúp trà bớt vị ‘xanh’ cũng như ‘đắng’ của lá trà tươi.

Ở Vân Nam hay các vùng trà miền Tây Bắc của Việt Nam thì người làm trà vẫn diệt men bằng chảo. Thay vì dùng những máy xao dạng thùng như ở các vùng trà khác.

Không giống như trà xanh thì trà Phổ Nhĩ được ‘diệt men’ không hoàn toàn. Tức là một phần nhỏ nhóm men polyphenol oxidase vẫn còn sót lại trong lá trà.

Nhờ vậy mà khi làm thành bánh trà Phổ Nhĩ sống thì bánh trà khi trữ lâu năm sẽ chuyển hoá thuận lợi hơn. Còn khi làm thành Phổ Nhĩ chín thì lá trà cũng sẽ lên men tốt hơn. Nhờ vậy mà hương vị cũng sẽ thơm ngon hơn.

3. Vò

Sau khi xao để ‘diệt men’ thì lá trà phải trải qua công đoạn vò. Lá trà được vò để lớp biểu cũng như hệ thống tế bào của lá trà bị phá vỡ. Nhờ vậy giúp giải thoát các thành phần hương vị của lá trà.

Chưa kể vò còn giúp cho chất trà sau khi thành phẩm sẽ dễ tiếp xúc với không khí hơn. Nên khi trữ lâu năm hay ủ lên men thì chất trà cũng sẽ dễ chuyển hoá hơn.

4. Làm khô

Theo truyền thống thì lá trà sau khi vò sẽ được làm khô bằng cách phơi nắng. Trà phơi sẽ có những hương vị đặc trưng riêng chỉ có ở trà được làm khô bằng cách phơi.

Tuy nhiên, để đảm bảo sản lượng cũng như tính đồng nhất trong hương vị, thì gần đây nhiều nơi họ làm khô bằng máy sấy.

Mao trà Phổ Nhĩ sau khi thành phẩm là có thể thưởng thức được rồi. Thậm chí là có thể trữ lâu năm. Mặc dù vậy thì mao trà thường sẽ phải trải qua 2 công đoạn khác nhau nữa. Để tạo nên Phổ Nhĩ sống và Phổ Nhĩ chín.

PHỔ NHĨ SỐNG VÀ PHỔ NHĨ CHÍN

Phổ Nhĩ Sống

Phổ Nhĩ Sống là nhóm trà Phổ Nhĩ không trải qua quá trình ủ lên men. Mao trà sau khi thành phẩm sẽ được mang đi ép thành bánh trà Phổ Nhĩ sống ngay.

Hoặc mao trà sẽ được trữ một thời cho lên men một chút rồi ép thành bánh. Những bánh Phổ Nhĩ sống này thường có hương vị dịu và đầm hơn những bánh được ép từ mao trà mới.

Chỉ những lá trà đẹp và nguyên vẹn mới được sử dụng để đi ép bánh. Mao trà được cân rồi cho vào những chiếc túi bằng vải. Những chiếc túi vải này được cho vào máy ép.

Hơi nước bốc lên từ máy ép khiến cho lá trà khô mềm và dai đi. Nhờ vậy mà khi ép thì lá trà được ép và quyện chặt với nhau thành một bánh trà.

Sau khi ép thì bánh trà được để trên kệ gỗ để khô từ từ. Tuỳ theo trà nguyên liệu mà bánh trà sẽ khô nhanh hay chậm. Từ vài giờ cho đến vài ngày, có khi cả tuần thì bánh trà mới khô. Sau khi bánh trà khô thì sẽ được mang đi bọc giấy.

bánh trà phổ nhĩ sống

Việc bọc giấy giúp bánh trà Phổ Nhĩ vẫn được tiếp xúc với không khí. Nhờ vậy mà khi trữ lâu năm thì bánh trà sẽ chuyển hoá cả về hương vị lẫn thành phần hoá học. Bánh trà trữ qua nhiều năm được gọi là Phổ Nhĩ Lâu Năm.

Một bánh trà Phổ Nhĩ sống được tin là đạt đến đỉnh cao lâu năm là 70 đến 80 năm. Mặc dù vậy thì không có nghĩa là phải trữ trà Phổ Nhĩ sống lâu năm mới dùng được. Mà bánh mới ra lò, hay trữ vài năm là có thể dùng được rồi.

Những bánh trà Phổ Nhĩ sống để lâu năm rất quý và đắt. Bản thân mình sau nhiều năm sưu tầm cũng chỉ sở hữu được những bánh được làm vào năm 1990s. Tức là khoảng hơn 30 năm mà thôi.

Trà Phổ Nhĩ càng mới thì lên men càng nhanh. Ví dụ như bánh trữ 5 năm sẽ rất khác bánh 10 năm. Nhưng bánh 25 năm thì không khác nhiều bánh 30 năm.

Nếu có thể thì bạn nên trữ bánh trà chứ không nên trữ mao trà. Cùng một nguyên liệu trà thì mao trà sẽ chuyển hóa nhanh hơn bánh. Nhiều người nghĩ càng chuyển hóa nhanh thì càng tốt. Thế nhưng khi trữ cùng một loại trà dưới dạng bánh và mao trà, thì mình thấy thì bánh để lâu phát triển tốt hơn mao trà về hương vị lẫn trà khí.

Nhiều người cũng có thói quen là mua bánh về rồi bẻ nhỏ ra để trà lên men nhanh. Theo kinh nghiệm riêng thì mình thấy không nên làm vậy. Mình nghĩ khi để nguyên bánh thì có vẻ như các vi sinh vật trên lá trà bị ép vào một không gian nhỏ. Nhờ vậy mà lá trà chuyển hoá tốt hơn qua thời gian.

Phổ Nhĩ Chín

Phổ Nhĩ Chín là nhóm trà Phổ Nhĩ phải trải qua quá trình ‘hậu lên men’. Công đoạn này bao gồm việc mao trà được chất thành đống, phun nước và được phủ bạt để làm tăng sức nóng trong quá trình ủ.

Đôi khi trà Phổ Nhĩ Chín thành phẩm được thêm vào trà mới ủ để kích thích hệ vi sinh vật phát triển nhanh hơn. Trà Phổ Nhĩ được xem là ‘chín’ hoàn toàn sau khoảng thời gian 45 đến 60 ngày. Nhưng có lúc nhà sản xuất họ ngừng ủ sớm để tạo ra trà Phổ Nhĩ chín một phần.

Làm trà Phổ Nhĩ Chín phức tạp hơn nhiều so với Phổ Nhĩ Sống. Mỗi nhà sản xuất lại có một cách làm và công thức riêng. Thế nên để miêu tả chi tiết cách làm Phổ Nhĩ Chín là việc ít ai nắm rõ được.

bánh trà phổ nhĩ chín

Công đoạn làm Phổ Nhĩ Chín được tạo ra là để mô phỏng rút ngắn quá trình lên men lâu năm của Phổ Nhĩ Sống. Thay vì phải chờ hàng chục năm thì chỉ mất hàng chục ngày.

Công thức Phổ Nhĩ Chín được tin là ra đời vào năm 1973. Khi các nhà sản xuất Phổ Nhĩ ở Vân Nam học hỏi cách làm ‘hắc trà’ từ những người đồng nghiệp của họ ở Quảng Đông. Lúc này tất cả các công ty trà đều là của nhà nước TQ nên rất dễ học hỏi lẫn nhau.

Do cách làm trà Phổ Nhĩ chín được học hỏi từ cách làm ‘hắc trà’. Thế nên Phổ Nhĩ Chín có thể được xếp vào nhóm Trà Phổ Nhĩ hay Hắc Trà thì cũng đều có phần đúng.

Nghiên cứu phân tích cho thấy trà Phổ Nhĩ Chín có thành phần hoá học và hệ vi sinh vật gần giống như Phổ Nhĩ Lâu Năm. Tuy nhiên, Phổ Nhĩ Chín không thể giống Phổ Nhĩ Lâu Năm về mặt hương vị hay trà khí được.

Bản thân trà Phổ Nhĩ Chín cũng có thể trữ lâu năm. Nhưng sự chuyển hoá về mặt hương vị sẽ không nhiều như trà Phổ Nhĩ Sống. Trà Phổ Nhĩ Chín trữ qua vài năm thường sẽ ngọt hơn và mùi ‘thối’ (ammonia) do quá trình ‘hậu len men’ sẽ phai đi nhiều.

CÁCH TRỮ TRÀ PHỔ NHĨ

Để trữ trà Phổ Nhĩ một cách tối ưu nhất, qua đó giúp trà chuyển hoá nhanh và đều thì bạn cần quan tâm 3 yếu tố sau:

  1. Thoáng khí
  2. Nhiệt độ mát
  3. Độ ẩm vừa phải

trà phổ nhĩ

Nếu muốn bánh trà Phổ Nhĩ mới chuyển hoá nhanh hơn thì bạn nên để bánh trà lên những chiếc kẹp chuyên dùng để kê trà Phổ Nhĩ. Những chiếc kẹp này hay được bán ở những nơi bán trà Phổ Nhĩ luôn.

Sau khi để lên những chiếc kẹp này thì bánh trà nên được xếp lên kệ gỗ. Bánh này cách bánh kia tầm vài cm. Bánh Trà Phổ Nhĩ Sống nên để riêng một nơi. Còn bánh chín thì nên để chung một nơi khác.

Kệ chưng trà Phổ Nhĩ nên để ở phòng mát và thoáng khí. Như phòng có cửa gió hay cửa sổ. Hoặc ngay giếng trời của nhà. Độ ẩm trong phòng nên vào khoảng 70-80%. Còn nhiệt độ phòng không nên quá nóng. Miễn sao chính bản thân bạn thấy mát và thoáng là được.

Bạn nên mua một chiếc nhiệt kế và ẩm kế điện tử để theo dõi môi trường của phòng. Nếu trời mưa hay nồm thì nên đóng cửa kính của kệ chưng trà cho bớt ẩm. Hoặc có thể cho một ít túi hút ẩm vào chung với trà.

Còn nếu không muốn trà lên men nhanh thì bạn nên cho bánh trà vào túi zipper. Khoá miệng túi lại là được.

CÁCH PHA TRÀ PHỔ NHĨ

Về cơ bản thì cánh trà Phổ Nhĩ rất ‘dày cơm’ nên loại trà này cần được pha với nước sôi 100 độ C. Chỉ ở mức nhiệt độ này thì mới đủ để mà chiết được hết thành phần hương vị của lá trà.

Ngoài ra thì bạn nên chọn loại ấm pha có công năng giữ nhiệt độ tốt. Như các loại ấm đất hay ấm tử sa. Riêng mình thì thích dùng ấm tử sa đất Tử Nê để pha trà Phổ Nhĩ Sống. Nhất là trà Phổ Nhĩ Sống mới.

Lý do là đất Tử Nê giúp làm dịu những vị “đắng” hay có ở bánh trà quá mới. Nhờ vậy mà giúp cho vị trà cân bằng hơn. Ít bị dội khi pha những bánh trà có hương vị đậm.

Đối với Trà Phổ Nhĩ Chín thì mình thích pha ấm tử sa đất Đoạn Nê. Vì loại đất này mình thấy giúp làm giảm mùi hôi của những bánh trà chín còn mới. Khiến cho nước trà đỡ ‘hôi’ và làm dạy mùi ‘ngậy béo’ đặc trưng của Phổ Nhĩ Chín hơn.

Trà Phổ Nhĩ: 5 Điều Cơ Bản Nên Biết 16

Tỷ lệ trà và nước thì tuỳ theo gu và khẩu vị mỗi người. Nếu bánh trà nhẹ vị lẫn trà khí thì mình có thể pha khoảng 7g trà cho 100ml nước. Bánh có trà khí vừa phải thì 5g trà cho 100ml nước. Còn những bánh trà khí ‘dữ dội’ thì 3g trà cho 100ml nước.

Thời gian hãm trà thì cũng tuỳ theo loại trà. Cứ mỗi loại trà thì mình lại canh thời gian khác nhau. Như trà Phổ Nhĩ Sống thì nước đầu thì nên hãm lâu một chút. Nước thứ hai có thể ngắn hơn hoặc bằng nước đầu. Nước ba thì nên bằng hoặc dài hơn nước đầu. Các nước sau thì nên cộng thêm thời gian vào.

VD như: 30s, 20s, 40s, 60s, 90s, 120s. Pha đến khi trà hết chất thì thôi. Trà Phổ Nhĩ tốt có thể pha được 6 đến 8 nước là chuyện hết sức bình thường.

 

Các Loại Trà Ngon Nổi Tiếng Của Việt Nam

Các Loại Trà Ngon Nổi Tiếng Của Việt Nam 17

Các loại trà ngon của Việt Nam có chất lượng rất cao. Thậm chí có chất lượng tương đương với các loại trà ngon đến từ những quốc gia trồng trà lớn khác.

Và bài viết này sẽ liệt kê các loại trà ngon và quý của nước ta để quý bạn đọc tham khảo.

CÁC LOẠI TRÀ NGON CỦA VIỆT NAM

TRÀ XANH

Cũng như người dân ở những quốc gia Đông Á khác, thì người Việt Nam rất thích uống trà xanh. Thế nên ở nước ta thì cũng có nhiều loại trà xanh nổi tiếng.

Trà Xanh Thái Nguyên

Đầu tiên là phải kể đến trà xanh Thái Nguyên. Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở phía bắc của thủ đô Hà Nội. Và đặc sản của nơi đây phải kể đến là trà xanh.

Do khí hậu và thổ nhưỡng cực kỳ thích hợp cho cây trà. Nên trà xanh ở Thái Nguyên có chất lượng rất cao. Có thể được xem là có chất lượng tốt nhất trong vùng trà trung du.

Đặc điểm của trà xanh Thái Nguyên đó chính là hương cốm nồng nàn. Vị thì đậm đà, ngậy béo, vị ngon umami nhiều và hậu ngọt kéo dài.

Chính vì vậy mà  vùng trà Thái Nguyên tự hào xem họ là “đệ nhất danh trà”. Vì ở Việt Nam thì đúng là về độ phổ biến cũng như ưa chuộng thì loại trà nào qua được trà Thái Nguyên.

trà nõn tôm, trà đinh ngọc, trà thái nguyên, chè thái nguyên, trà tân cương, chè tân cương, trà đinh ngọc, chè đinh ngọc

Trà Thái Nguyên còn có tên gọi là trà Bắc Thái, hay Chè Thái Nguyên theo cách gọi của một số nơi ở miền Bắc. Bắc Thái là tên cũ của hai tỉnh Bắc KạnThái Nguyên trước khi được tách ra.

Thái Nguyên vốn dĩ không phải là đất trồng trà lâu đời như một số tỉnh khác. Vào khoảng đầu thế kỷ 20 thì cây trà giống mới được đem về trồng tại xã Tân Cương.

Do khí hậu và thổ nhưỡng cực kỳ hợp với cây trà nên trà Thái Nguyên có chất lượng rất cao và dần trở nên nổi tiếng khắp nơi. Thế nên dân gian mới có câu “Chè Thái, gái Tuyên” là vậy.

Nếu bạn có nhu cầu mua trà xanh Thái Nguyên thì có thể ủng hộ Danh Trà. Chúng tôi là gia đình có truyền thống làm trà gia truyền ở Thái Nguyên từ nhiều đời nay.

Bạn có thể tham khảo các sản phẩm trà Thái Nguyên của chúng tôi ở trên chính website này.

Trà Shan Tuyết

Trà Shan Tuyết là loại trà xanh được làm từ lá của cây trà cổ thụ. Như tên gọi của mình thì cây trà cổ thụ có tuổi đời rất lâu. Có thể lên đến hàng trăm năm.

Cây trà cổ thụ còn có tên gọi là Đại Diệp Trà hay giống trà lá to. Thế nên cánh trà cổ thụ thường rất to hơn giống trà vườn. Giống trà này hay mọc ở những vùng núi cao.

Búp trà cổ thụ được bao phủ bởi những ‘sợi lông’ trắng. Thế nên sau khi chế biến thì búp trà khô có màu trắng. Thế nên loại trà này được gọi là shan tuyết. Shan ở đây có nghĩa là núi cao.

trà shan tuyết, chè shan tuyết, hà giang, tà xùa, suối giàng
Trà shan tuyết cổ thụ Tà Xùa làm theo cách truyền thống của Danh Trà.

Trà shan tuyết còn có tên gọi cũ rất nổi tiếng, đó là trà Mạn Hảo. Trong bài ca dao Hà Nội ba mươi sáu phố phường có câu “Uống chè mạn hảo, ngâm nôm Thuý Kiều”.

Uống trà Mạn Hảo là một trong những thú vui của thanh niên trai tráng Việt vào khoảng thế kỷ 19 và 20. Mạn Hảo là một địa danh có thật của nước Đại Việt khi xưa.

Nhưng sau này Mạn Hảo bị chuyển sang thuộc Vân Nam (Trung Quốc) vào thời Pháp thuộc. Thế nhưng Việt Nam vẫn còn nhiều rừng trà cổ thụ có chất lượng rất tốt.

Một số vùng núi ở phía Đông và Tây Bắc của Việt Nam đều có cây trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Một trong số này đó chính là một số vùng trà của Hà Giang.

Ở Hà Giang có một số vùng chè shan tuyết rất nổi tiếng. Chạy dọc theo dãy núi Tây Côn Lĩnh thì chúng ta có các vùng trà shan tuyết lớn như Bắc Quang, Quang Bình, Xín Mần, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên và cả Thành phố Hà Giang.

Mỗi vùng có một độ cao cũng như thổ nhưỡng khác nhau một chút. Nên các loại trà shan tuyết ở mỗi vùng sẽ có hương vị đặc trưng riêng. Không lẫn với nhau được.

Ngoài Hà Giang thì còn có một vùng trà quy mô nhỏ hơn nhưng cũng rất nổi tiếng. Đó chính là vùng trà shan tuyết Tà Xùa ở tỉnh Sơn La.

Tà Xùa là một dãy núi thuộc huyện Bắc Yên của tỉnh Sơn La. Cũng như nhiêu dãy núi khác ở phía Bắc Việt Nam thì Tà Xùa cũng nơi sinh trưởng của những cây trà cổ thụ.

Nằm giữa Hà Giang và Sơn La thì chúng ta lại có Yên Bái. Nơi có một xã có tên là Suối Giàng. Và địa danh này gắn liền với loại đặc sản nổi tiếng nhất của nơi đây. Đó là trà shan tuyết Suối Giàng.

Cùng từ cây trà cây cổ thụ, thế nhưng các loại trà shan tuyết của từng vùng kể trên sẽ rất khác nhau. Vê cả hình dáng lá trà lẫn hương vị.

Sự khác nhau này đến khi hậu và thổ nhưỡng. Mỗi dân tộc sống ở từng nơi cũng có phương thức chắm sóc và sản xuất trà cũng khác nhau một chút.

TRÀ Ô LONG

Trà Ô Long là loại trà mới được trồng quy mô lớn ở Việt Nam vào mấy chục năm gần đây. Thế nhưng loại trà này hiện cũng đang được ưa chuộng ở nhiều nơi.

Khi nhắc đến trà Ô Long phải kể đến tỉnh Lâm Đồng. Nơi đây được xem là vùng trà ô long lớn nhất cũng như chất lượng tốt nhất Việt Nam hiện nay.

Ở Lâm Đồng có những vùng trà có lịch sử rất dài. Nhất là những thương hiệu trà lâu đời như Cầu ĐấtB’lao (Bảo Lộc). Cây trà được trồng đầu tiên ở Cầu Đất vào năm 1927. Sau đó dần dần có mặt ở Di Linh và Bảo Lộc vào vài năm sau.

Lâm Đồng vốn nổi tiếng với trà xanh, các loại trà ướp hương và cà phê. Nhưng đến khoảng những năm 90 thì một số doanh nghiệp Đài Loan xuất hiện bắt đầu trồng và sản xuất các loại trà Ô Long ở nơi đây.

Các doanh nghiệp của Việt Nam ở Lâm Đồng cũng đã nhanh chân chớp thời cơ để dành thị phần. Và dần dần thì Lâm Đồng là vùng trà Ô Long lớn nhất nước.

Các Loại Trà Ngon Nổi Tiếng Của Việt Nam 18

Chất lượng của các loại trà Ô Long của Việt Nam cũng rất cao. Loại ngon có thể có thể so sánh với một số dòng trà Ô Long loại tốt của Đài Loan.

Chuyện có thật là vào năm 2017. Một người nông dân Đài Loan đã đem trà Ô Long của Việt Nam trộn với một ít trà Đài Loan. Rồi đem trà đi đấu giải và giành được giải bạc.

Không may cho anh này là bị phát hiện và mất giải. Qua việc này thì chúng ta có thể thấy là các loại trà Ô Long của Việt Nam có chất lượng tốt. Được xuất khẩu và ưa chuộng ở nhiều thị trường trên thế giới.

Một số giống trà Ô Long nổi tiếng ở Việt Nam có thể kể đến là Tứ Quý, Kim Huyên, Thuý Ngọc, Thanh Tâm và một số giống trà bản địa.

Từ những giống trà này thì người làm trà có thể làm ra những loại trà Cao Sơn lên men thấp. Hay lên men vừa như Động ĐìnhThiết Quan Âm. Cho đến lên men cao như Quý Phi và Đông Phương Mỹ Nhân.

Ngoài Lâm Đồng thì Việt Nam còn có một vùng trà Ô Long lớn khác đó là Mộc Châu (tỉnh Sơn La). Ở đây các loại trà cũng rất đa dạng. Từ giống bản địa là cây trà Shan Tuyết của chính tỉnh Sơn La. Cho đến những giống ngoại nhập như Bát Tiên, Kim Huyên hay Thanh Tâm.

HỒNG TRÀ

Việt Nam không phải là quốc gia ưa chuộng hồng trà hay trà đen. Thế nên tìm được một loại hồng trà nổi tiếng thật sự không dễ.

Đa phần các loại trà đen được sản xuất ở Việt Nam là để xuất khẩu. Đặc biệt là các thị trường Trung Đông, Châu Phi và Châu Âu. Đây là những khu vực thích uống trà đen.

Một số loại hồng trà tốt nhất của Việt Nam đến từ những vùng trà shan tuyết cổ thụ. Không chỉ làm nên loại trà xanh thơm ngon mà lá trà cổ thụ còn có thể làm nên các loại trà khác như hồng trà.

hồng trà, trà đen, cổ thụ, hà giang

Hồng trà cổ thụ có mùi hương ngọt ngào như mạch nha và trái cây khô. Vị cũng ngọt ngào và rất dễ uống.

Các nhà sản xuất trà ở Lâm Đồng cũng làm ra các loại hồng trà từ nguyên liệu có sẵn. Như hồng trà Tứ Quý hay Ruby.

BẠCH TRÀ

Bạch trà là loại trà cũng được làm từ lá của cây trà cổ thụ. Nguyên liệu làm nên bạch trà là những búp trà non được phủ toàn lông tơ trắng muốt. Thế nên bạch trà hay trà trắng được gọi tên như vậy.

Lâu nay thì bạch trà không phải là loại trà được biết đến nhiều ở Việt Nam. Nguyên liệu lá trà được ưu tiên làm thành trà xanh hơn là để làm bạch trà.

bạch trà, trà trắng

Tuy nhiên, gần đây thì những người làm trà cũng đã tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có và tạo ra các loại trà trắng khác nhau. Như bạch trà Tước Thiệt hay trà móng rồng.

Đặc điểm của các loại trà làm theo phương pháp bạch trà đó là hương vị rất dịu dàng. Ngọt và thơm mùi hoa. Ít đắng chát nên rất dễ uống.

TRÀ PHỔ NHĨ

Trà Phổ Nhĩ cũng là là loại trà được làm từ lá của cây trà cổ thụ. Cái tên Phổ Nhĩ bắt nguồn từ thị trấn Phổ Nhĩ (hiên nay đã là thành phố) của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

Các nhà buôn trà khi xưa hay tập kết ở thị trấn Phổ Nhĩ. Trước khi khởi hành đi Tây Tạng hay các vùng ở phía Bắc khác của Trung Quốc. Thế nên họ gọi luôn các loại trà họ bán là Phổ Nhĩ.

Do ngày xưa vận chuyển trà thường dùng sức người và lừa. Thế nên trà Phổ Nhĩ được ép thành bánh trà. Và đến mãi ngày nay thì loại trà này vẫn được ép thành bánh.

Trà Phổ Nhĩ về cơ bản là gần giống với trà xanh hay trà shan tuyết. Loại trà này khác ở chỗ là người làm trà sẽ không ‘diệt men’ lá trà hoàn toàn. Hay còn gọi là diệt men một phần.

Khi lá trà còn ‘men’ thì sẽ thuận lợi cho việc trà chuyển hoá khi để lâu. Nhờ vậy mà trà Phổ Nhĩ càng để lâu thì càng ngon và càng có giá trị. Trà Phổ Nhĩ chưa được trữ lâu được gọi là trà Phổ Nhĩ sống. Còn trà để qua nhiều năm thì được là Trà Phổ Nhĩ lâu năm.

Quá trình chuyển hoá của trà Phổ Nhĩ có thể kéo dài hàng chục năm. Thế nên rút gọn quá trình này thì người làm trà đã sử dụng một phương pháp chuyển hoá nhanh gọi là ‘ủ ướt’.

Sau khi ‘ủ ướt’ trong vài chục ngày thì trà Phổ Nhĩ được chuyển hoá nhanh tương tự như chuyển hoá tự nhiên trong hàng chục năm. Và loại trà trải qua quá trỉnh này gọi là Trà Phổ Nhĩ chín.

Các Loại Trà Ngon Nổi Tiếng Của Việt Nam 19

Ở Việt Nam thì có Hà Giang và Yên Bái là hai vùng làm các loại trà Phổ Nhĩ rầm rộ nhất. Đặc biệt là Hà Giang là nơi có nhiều công ty sản xuất trà Phổ Nhĩ không chỉ bán trong nước mà còn xuất đi nước ngoài như Trung Quốc.

13 Trà Giảm Cân Mà Bạn Có Thể Tự Làm

trà giảm cân, chè giảm cân, uống trà giảm cân

Thay vì tốn nhiều tiền để mua những loại trà giảm cân đắt đỏ được bán với mô hình ‘đa cấp’. Thì bạn có thể tìm uống một trong số 10 loại trà tự nhiên sau để tăng cường khả năng giảm cân.

Những loại trà này có thể dễ dàng tìm mua ở chợ hay siêu thị. Đồng thời có tác dụng giảm cân thật sự vì được nhiều nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả.

TRÀ GIẢM CÂN LÀ GÌ?

Trà giảm cân là loại trà được làm trà bằng cách kết hợp các loại thảo mộc hay trái cây khô có tác dụng giảm cân. Cách pha trà giảm cân cũng giống như pha các loại trà khác. Thế nhưng một số loại trà có thể thêm đường hoặc sữa, còn trà giảm cân thì không. Vì mục đích của loại trà này là hạn chế kết hợp với bất kỳ thứ gì có nhiều năng lượng, đặc biệt là đường.

Trà vốn dĩ được xem là một thuốc trong vài trăm năm sau khi ra đời. Đến một khoảng thời gian thì uống trà được xem là thú vui tao nhã của giới quý tộc. Rồi bắt đầu lan dần ra mọi tầng lớp. Và gần đây khi người tiêu dùng lại có hứng thú với sản phẩm mang tính tự nhiện. Thì trà nói chung, và trà giảm nói riêng lại được ưa chuộng.

Trà giảm cân ra đời khi nhiều nước phát triển đối mặt với vấn nạn béo phì. Theo thống kê thì người trưởng thành ở Việt Nam là một trong số ít bị béo phì nhất thế giới. Thế nên trà giảm cân chủ yếu được khách hàng (nhất là nữ) mua để làm đẹp hơn là chống lại bệnh béo phì.

trà giảm cân

TÁC DỤNG CỦA TRÀ GIẢM CÂN

Trà giảm cân là loại trà thường được làm từ các loại thảo mộc khác nhau hay còn gọi là blend. Các loại thảo mộc này sẽ có những tác động khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là giúp bạn giảm cân.

Tác dụng của trà giảm cân bao gồm:

  • Tăng cường quá trình trao đổi chất
  • Tạo hiệu ứng sinh nhiệt
  • Tốt cho tiêu hoá
  • Giảm cảm giác thèm ăn

1. Tăng cường trao đổi chất

Tăn cường trao đổi chất là tác dụng chính phải có của một loại trà giảm cân hiệu quả. Và để có được tác dụng này thì thành phần cần dùng không có gì xa lạ. Đó chính là trà xanh hay trà ô long. Các loại trà ít lên men được làm từ cây trà. Và một số nghiên cứu đã chứng minh được khả năng tăng cường chuyển hoá của các loại trà này.

2. Tạo hiệu ứng sinh nhiệt

Bạn có bao giờ để ý là ăn khi một số loại thực phẩm có cảm giác người ấm hơn không? Đó là một số loại thực phẩm, hay chính xác hơn là gia vị có hiệu ứng sinh nhiệt. Sinh nhiệt là lúc mà cơ thể đốt năng lượng để sinh nhiệt nhiều hơn. Một số loại thực phẩm kích thích hiệu ứng này là trà xanh, cà phê, gừng, quế…

3. Tốt cho tiêu hoá

Một hệ tiêu hoá tốt cũng sẽ rất tốt cho việc giảm cân. Vì các loại vi khuẩn tốt sống trong ruột sẽ quyết định đến việc thức ăn sẽ được tiêu hoá ra sao. Mỡ được tích trữ ở đâu và kể cả cảm giác đói hay no.

Trà giảm cân tốt sẽ kích thích các vi khuẩn trong đường ruột phát triển. Giúp hiệu quả hơn trong việc chuyển hoá chất béo thành năng lượng. Thay vì dùng chất béo để tích trữ thành mỡ.

4. Giảm thèm ăn

Một số loại thảo mộc không có tác động giảm cân trực tiếp. Như đốt năng lượng hay sinh nhiệt này kia. Nhưng lại khiến bạn có cảm giác giác no lâu và bớt thèm ăn. Một số loại thảo mộc có tác dụng này đó là cỏ cà ri, dây thìa canh, trà xanh…

Bạn đã hiểu về cơ chế cơ bản của trà giảm cân rồi. Để tạo ra một loại trà giảm cân hiệu quả thì chỉ cần kết hợp các loại thảo mộc có tác động như trên. Và tiếp theo đây là một số gợi ý dành cho bạn.

CÁC LOẠI TRÀ GIẢM CÂN HIỆU QUẢ

1. Bạch Trà

Bạch trà hay trà trắng là loại trà được làm từ cây trà cổ thụ. Sở dĩ có cái tên như vậy là vì trà cổ thụ là giống trà có thể sống lâu đến hàng trăm năm. Và cây trà cũng có thể cao hàng chục mét.

Trà trắng được đặt tên theo màu sắc của búp trà. Do hay mọc ở vùng núi cao lãnh lẽo nên búp trà trắng thường có những ‘lông tơ’ màu trắng như tuyết. Thế nên người làm trà gọi loại trà này là trà trắng luôn.

bạch trà, trà trắng

Bạch trà được xem là trà dành cho phụ nữ. Lý do là bạch trà không chỉ có hình dáng đẹp mà còn rất dễ uống. Nếu bạn không uống được trà xanh do quá chát thì bạch trà chính là loai trà dành cho bạn. Bạch trà có hương hoa thơm mát và vị ngọt không lẫn vào đâu được.

Ngoài ra thì bạch trà còn có hàm lượng thành phần chống oxy hoá rất cao. Thậm chí là cao nhất trong tất cả các loại trà như trà xanh. Thích hợp cho những người muốn ngừa lão hoá da từ bên trong. Đồng thời bạch trà còn là loại trà giảm cân hiệu quả.

Nghiên cứu vào năm 2009 cho thấy bạch trà có khả năng làm phân giải mỡ (lipolysis) hiệu quả. Đồng thời hạn chế quá trình tích tự mỡ (adipogenesis) của cơ thể. Qua đó giảm trọng lượng mỡ của cơ thể. Khiến bạch trà là ứng cử viên sáng giá hàng đầu để làm trà giảm cân.

2. Trà Xanh

Trà xanh là loại trà không được lên men. Thế nên loại trà này gần như giữ lại hoàn toàn những thành phần hoá học có ích của lá trà tươi. Và trà xanh là một trong những loại trà tốt nhất để làm trà giảm cân.

Trà Giảm Cân: 6 loại trà tự nhiên giúp giảm cân và thu gọn vòng eo 1

Trà xanh giảm cân bằng 2 cách. Đầu tiên đó là việc tăng cường quá trình trao đổi chất. Có nghĩa là cơ thể bạn sẽ đốt năng lượng hiệu quả hơn. Và thứ hai đó là giảm cảm giác thèm ăn. Qua đó hạn chế bạn hấp thụ lượng thức ăn vượt quá nhu cầu của cơ thể.

Trong một nghiên cứu vào năm 2008 thì 60 bệnh nhân béo phì được chia thành 2 nhóm. Nhóm đầu tiên được cho uống trà xanh, còn nhóm thứ hai thì được cho dùng một loại nước bình thường. Sau 12 tuần thì nhóm uống trà xanh hàng ngày giảm được 7.3 pound (3.3 kg) nhiều hơn so với nhóm không được cho uống trà xanh.

một nghiên cứu khác của Nhật Bản cũng trong 12 tuần thì nhóm uống trà xanh cũng ghi nhận là giảm đáng kể cân nặng, lượng mỡ thừa, cũng như vòng eo khi so với nhóm không được dùng trà xanh.

Có 3 loại trà xanh phổ biến hiện nay. Bao gồm: lá trà xanh tươi, trà xanh khô và bột trà xanh. Lá trà xanh tươi thì bạn có thể mua ở chợ. Mang về rửa sạch và đun với nước để uống. Tuy nhiên, lá trà xanh tươi thường khó bảo quản. Khiến cho lá trà tươi không còn giữ được các thành phần giúp giảm cân.

lá trà xanh tươi, lá trà xanh khô, trà xanh

Bạn có thể mua lá trà khô cũng rất tốt. Sự thật là về mặt tốt cho sức khoẻ thì lá trà khô cung không kém lá trà tươi bao nhiêu. Mà còn có lợi thể là bảo quản được lâu và hương vị dễ uống hơn. Khi mua trà xanh khô thì bạn nên chọn mua trà Thái Nguyên (hay chè Thái Nguyên). Vì đây là vùng trà xanh tốt nhất nước ta hiện nay.

Bột trà xanh cũng là lựa chọn tốt nếu bạn muốn uống trà xanh giảm cân. Lý do là khi uống bột trà xanh thì bạn uống cả nước lẫn lá trà luôn. Nếu có điều kiện thì bạn nên mua bột trà xanh hay matcha của Nhật Bản. Còn không thì sử dụng bột trà xanh của Việt Nam cũng rất tốt.

bột trà xanh, matcha

Không nên ham mua những loại bột trà xanh giá rẻ chỉ trên dưới 100 nghìn bán ở các sàn thương mại điện tử. Vì đó không phải là bột trà mà đơn giản là bột gạo nhuộm màu và ướp mùi mà thôi. Làm bột trà xanh rất tốn thời gian và công sức nên không thể nào có giá rẻ như vậy được.

3. Trà Gừng

Trà gừng là loại trà rất được yêu thích vào những ngày lạnh. Vì loại trà này giúp trị ho và làm cơ thể ấm hơn. Nhắc đến việc làm cơ thể ấm thì đây cũng là một cách mà trà gừng giúp bạn đốt mỡ hiệu quả hơn đấy.

Trà gừng giảm cân bằng cách tạo hiệu ứng sinh nhiệt. Thế nên bạn sẽ có cảm giác ấm bụng và người hơi ấm lên một chút khi uống trà gừng. Ngoài ra thì uống trà gừng cũng giúp bạn  giảm hấp thụ mỡ và giảm cảm giác thèm ăn. Theo kết luận của một nghiên cứu vào năm 2017.

trà gừng, trà gừng giảm cân
Trà gừng là loại trà giảm cân mà bạn có thể dễ dàng làm nhất.

4. Trà gạo lứt

Trà gạo lứt là loại trà được làm từ gạo lứt. Loại nhà này thường được biết đến như một cách để giải nhiệt vào những ngày nóng bức. Loại gạo này hơi khó ăn so với gạo trắng. Thế nên nhiều người pha trà từ gạo lứt để dễ uống hơn.

Việc pha trà từ gạo cũng không có gì lạ. Như người Nhật họ uống một loại trà có tên genmaicha. Đây là loại trà kết hợp giữa gạo nâu rang và trà xanh. Genmaicha không chỉ thơm ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khoẻ. Trong đó có cả giảm cân.

trà gạo lứt
Trà gạo lứt rất thích hợp để làm trà giảm cân nếu bạn không ăn được cơm gạo lứt.

Trà gạo lứt giảm cân bằng cách cung cấp cho cơ thể chúng ta một lượng chất xơ cần thiết. Do đó khiến hỗ trợ hệ tiêu hoá đồng thời giúp cho bạn có cảm giác no lâu hơn. Nhờ vậy mà bạn sẽ ăn ít hơn so với bình thường.

5. Trà bồ công anh

Trà bồ công anh thường được làm từ lá và rễ của cây bồ công anh. Đây có thể nói là thành phần quen thuộc trong nhiều loại trà detox. Vì trà bồ công anh giúp bổ gan và thận. Những bộ phận giúp thải độc cho cơ thể chúng ta.

Về khả năng giảm cân thì bồ công anh cũng chỉ có tác dụng gián tiếp mà thôi. Đó là loại trà này làm giảm việc tích nước của cơ thể. Cơ thể tích nhiều nước vì bạn ăn mặn hoặc uống quá ít nước. Khi tích nước thì không chỉ mặt mà cơ thể chúng ta có cảm giác ‘béo’.

Khi uống trà bồ công anh thì lượng nước dư sẽ được thải bớt và vẻ ngoài của bạn sẽ ít ‘béo’ hơn. Một kiểu giống như các nữ gymer hay ăn măng tây để vừa bổ sung chất xơ lại vừa giúp thải bớt lượng nước thừa trong cơ thể. Nhờ hiệu ứng ‘thải nước’ này mà bạn có thể sử dụng trà bồ công anh làm trà giảm cân.

trà bồ công anh, hoa bồ công anh

6. Trà ổi

Trà ổi được làm từ lá ổi phơi khô. Nghe thì có vẻ lạ thế nhưng lá ổi được sử dụng làm gia vị trong nhiều món ăn của Việt Nam. Chẳng hạn như dùng để gói nem chua hay làm gia vị ướp thịt ba chỉ nướng.

trà ổi
Trà ổi được nhiều người Nhật uống như một loại trà giảm cân hiệu quả.

Lá ổi thực chất là một vị thuốc. Và được sử dụng làm thuốc trong y học cổ của Ấn Độ. Trà ổi giảm cân bằng cách hạn chế tinh bột chuyển hoá thành đường. Theo một nghiên cứu của Nhật Bản thì khả năng này của lá ổi cho thấy tiềm năng trong việc trị bệnh tiểu đường và giảm béo phì.

Lá ổi phơi khô rất thích hợp để làm trà giảm cân. Thế nhưng có thể bạn sẽ khó tìm mua lá ổi khô ở chợ siêu thị. Đơn giản nhất là hỏi người quen nếu nhà có cây ổi thì đến xin một ít là về để làm trà.

7. Trà bụp giấm

Bụp giấm là loài hoa có thời gian cũng gây sốt ở Việt Nam. Lý do là nhiều người cho rằng loài hoa này chữa được ‘bách bệnh’. Sự thật là bạn cũng đừng nên tin vào những thông tin mang tính truyền miệng này.

Thế nhưng loại hoa này thật sự có hỗ trợ trong việc giảm cân. Trong một nghiên cứu của Đài Loan thì các nhà khoa học đã theo dõi 12 người tình nguyện trong suốt 12 tuần. Những người tham gia nghiên cứu được chia thành hai nhóm. Và nhóm được cho uống chiết xuất bụp giấm giảm cân nhanh hơn so với nhóm còn lại.

Các nhà khoa học tin là chiết xuất hoa bụp giấm có khả năng ngừa hình thành mỡ ở vùng bụng, gan nhiễm mỡ và béo phì.

trà bụp giấm, hibiscus
Bụp giấm không chỉ thơm ngon mà còn có thể làm thành trà giảm cân.

8. Hồng trà

Trà đen hay hồng trà là loại trà được làm từ cây trà giống như trà xanh. Tuy nhiên, khác với trà xanh là loại trà không lên men. Thì lá trà đen được tạo ra bằng cách ủ lên men lá trà tươi. Lúc này không chỉ hương vị và màu sắc mà thành phần hóa học của trà đen cũng khác biệt hoàn toàn so với lá trà tươi.

13 Trà Giảm Cân Mà Bạn Có Thể Tự Làm 20

Trà đen giảm cân bằng cách hỗ trợ một loại vi khuẩn đặc biệt trong đường ruột phát triển. Theo nghiên cứu vào năm 2017, loại vi khuẩn này có tên là Pseudobutyrivibrio và có khả năng tác động lên quá trình trao đổi chất của cơ thể. Đồng thời giúp chuyển hoá năng lượng từ chất béo hiệu quả hơn.

Một nghiên cứu vào năm 2014 cũng cho thấy những người được cho uống 3 tách trà đen hàng ngày giảm cân nhanh hơn những người không được cho uống trà. Chính vì vậy nên hồng trà cũng là sự lựa chọn thích hợp để làm trà giảm cân.

9. Trà Ô Long

Trà Ô Long là loại trà cũng được làm từ cùng cây trà như trà xanh hay trà đen. Khác một điều là trà Ô Long được lên men một chút. Thế nên loại trà này vừa có đặc tính giảm cân giống như trà xanh và trà đen.

Trà Giảm Cân: 6 loại trà tự nhiên giúp giảm cân và thu gọn vòng eo 2

Trà ô long giảm cân bằng cách tăng cường chuyển hoá năng lượng. Đồng thời giảm cảm giác thèm ăn và hỗ trợ đường ruột. Trong một nghiên cứu vào năm 2009, 102 người bị béo phì được cho uống trà Ô Long liên tục trong sáu tuần. Kết quả là 70% người tham gia thí nghiệm giảm được hơn 1kg. Trong khí đó 22% người tham gia thì nghiệm giảm được hơn 3kg.

Trà Ô Long cũng là một trong số loại trà phổ biến ở Việt Nam. Bạn có thể mua trà Ô Long do Việt Nam sản xuất ở các siêu thị. Hoặc mua trà Ô Long của Đài Loan để làm trà giảm cân cũng rất tốt.

10. Trà Phổ Nhĩ 

Trà Phổ Nhĩ là loại trà rất được những người chơi trà ở Việt Nam ưa chuộng. Thế nhưng đối với người bình thường thì cái tên trà Phổ Nhĩ vẫn còn khá lạ lẫm. Trà Phổ Nhĩ được làm từ lá của cây trà cổ thụ. Đây là những cây trà hay mọc ở miền núi Tây Bắc của Việt Nam, tỉnh Vân Nam của Trung quốc, và có cả ở Lào và Myanmar.

Cây trà cổ thụ rất khác biệt so vối cây trà vườn thường thấy. Cây trà lâu năm có thể cao đến hàng chục mét và sống đến hàng trăm năm. Do đặc tính hoá học có phần khác biệt nên trà Phổ Nhĩ làm từ cây trà cổ thụ cũng có những tác dụng khác một chút. Và một trong số những tác dụng này có cả giảm cân.

trà phổ nhĩ

Trà Phổ Nhĩ giảm cân bằng cách kích thích hệ vi sinh tốt trong đường ruột phát triển. Trong một nghiên cứu của Nhật cho thấy chiết xuất trà Phổ Nhĩ giúp giảm đáng kể trong lượng cơ thể của những người tham gia nghiên cứu.

Không chỉ giúp ngừa béo phì. Trà Phổ Nhĩ còn có tác dụng ngừa các bệnh về tim mạch hay bệnh tiểu đường. Theo những nghiên cứu trên động vật thì loại trà này giúp hạn chế mỡ hình thành trong mạch máu hay ở gan.

11. Trà Rooibos

Trà rooibos hay còn được gọi là hồng trà Nam Phi là loại trà được làm từ lá của cây rooibos. Rooibos có màu sắc và hương vị gần giống với hồng trà nên còn được gọi là hồng trà.

Về cơ bản thì rooibos không có tác dụng giảm cân trực tiếp. Mà loại trà này giúp giảm stress và căng thẳng. Một nghiên cứu từ Hàn Quốc tin là khi chúng ta ít bị stress thì chúng ta sẽ ăn ít hơn. Và rooibos là loại trà giúp giảm stress hiệu quả.

trà rooibos, hồng trà nam phi

Nếu mua các loại trà giảm cân ở nước ngoài. Bạn cũng sẽ hay bắt gặp thành phần trà rooibos.

12. Trà Dung

Trà dung là loại trà được làm từ lá của cây dung. Cây dung là loại cây thuốc hay được dùng để trị các bệnh về đường dạ dày và giải độc gan. Ngoài ra thì trà dung cũng có thể có tác dụng tốt cho phụ nữ. Giúp trị các triệu chứng về tử cung hay bệnh bạch đới.

Sự thật là khả năng trà dung giảm cân chỉ nghe qua truyền miệng mà thôi. Chứ chưa thật sự có bằng chứng khoa học rõ ràng nào. Một phần vì đây cũng là cây thuốc không được sử dụng phổ biến cho lắm. Bạn có thể sử dụng trà dung làm trà giảm cân nếu muốn, nhưng đừng quá hy vọng vào tác dụng thật sự.

13. Lá Sen

Trà giảm cân thương hiệu Việt Nam thường hay có thành phần lá sen. Lá sen có thể có lợi cho tiêu hoá và kích thích giảm cân. Thế nhưng thật sự thì cũng chưa có bằng chứng nào cho thấy khả năng giảm cân của lá sen.

Dị Võ: vùng đất gắn liền với lịch sử trà Phổ Nhĩ

Dị Võ: vùng đất gắn liền với lịch sử trà Phổ Nhĩ 21
Dị Võ (易武 – Yiwu) có thể được xem là một trong những vùng trà Phổ Nhĩ nổi tiếng nhất, vùng trà này thuộc khu vực huyện Mãnh Lạp (勐腊 – Mengla). Mãnh Lạp là một huyện của Khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp, khu tự trị của người Thái này nằm ở phía cực Nam của tỉnh Vân Nam, đồng thời giáp với Lào và Myanmar.

Từ xa xưa thì bộ tộc Bố Lãng hay người Blang là những người đầu tiên trồng trà tại nơi đây. Nhưng đến khoảng cuối đời nhà Thanh (đầu thế kỷ 20) thì càng có nhiều người Hán đến định cư và trồng trà tại Dị Võ. Các thương gia người Hán nhờ tài kinh doanh vốn có, đã thành lập một hệ thống mua bán trà hoàn chỉnh với các điểm thu mua cũng như trao đổi hàng hoá. Nhờ họ mà nền kinh tế địa phương dựa vào cây trà ngày càng được định hình. Họ lập nên Lục Đại Trà Sơn (六大茶山) bao gồm 5 ngọn núi trà nổi tiếng ở huyện Mãnh Lạp và 1 ngọn núi ở huyện Cảnh Hồng (景洪 – Jinghong). Lục Đại Trà Sơn bao gồm: Dị Võ (易武 – Yiwu), Ỷ Bang (倚邦 – Yibang), Man Chuyên (蛮砖 – Manzhuan), Cách Đăng (革登 – Gedeng), Mãng Chi (莽枝 – Mangzhi), và Du Nhạc (攸乐 – Youle).

Dị Võ nằm ở Tây Song Bản Nạp, đây là châu tự trị dân tộc Thái ở phía Nam tỉnh Vân Nam. Và nơi đây cũng chính là nơi bắt đầu của Trà Mã Đạo – con đường vận trà nổi tiếng. Thậm chí con đường này còn được ví là Con Đường Tơ Lụa thứ hai. Con đường này bắt đầu từ phía Nam của Tây Song Bản Nạp, trà trong vùng được tập trung ở một ngôi làng có tên là Dị Võ. Sau đó trà được vận chuyển lên phía Bắc, rồi lại được tập trung ở một làng khác gọi là Phổ Nhĩ. Thế nên đến tận mãi ngày nay thì trà có tên là trà Phổ Nhĩ, còn Dị Võ vẫn được xem là một trong những vùng trà Phổ Nhĩ nổi tiếng nhất của Vân Nam.

trà phổ nhĩ dị võ

Vùng trà Dị Võ được xem là kết hợp của rất nhiều làng lại với nhau. Nổi tiếng nhất ở Dị Võ là nhóm gồm các làng: Ma Hắc (黑易 – Mahei), Lạc Thuỷ Đổng (落水洞 – Luoshuidong), Đại Thế Thụ (大漆树 – Daqishu) và Man Tú (曼秀 – Manxiu). Trà Phổ Nhĩ đến từ các làng này được xem là thuần chất Vũ Di nhất và thường hay để dòng chữ ‘Dị Võ Chánh Sơn’ (易武正山 – Yiwu Zhengshan), hay trà chính gốc đến từ núi Vũ Di.

Hiện nay diện tính trồng trà ở Dị Võ rơi vào khoảng 10 triệu mét vuông, với sản lượng rơi vào khoảng 600 tấn trà mỗi năm. Các khu vực trồng trà thường nằm ở độ cao từ 820 cho đến 2.000m so với mặt nước biển. Khí hậu ở Dị Võ được xem là hoản hảo cho cây trà cổ thụ phát triển với nhiệt độ ấm áp với gần 2.000 giờ ánh sáng mặt trời mỗi năm, độ ẩm cao và ổn định trên 80%, và gần như không có tuyết.

Tại sao bánh trà Phổ Nhĩ lại hay có cân nặng là 357g?

trà phổ nhĩ

Nếu bạn là người thích uống trà Phổ Nhĩ thì sẽ không ít lần bạn sẽ tự hỏi. Tại sao bánh trà Phổ Nhĩ lại hay được đóng thành một bánh 357g? Đóng thành số chẵn như 350g hay 360g dễ hơn nhiều. Nhưng nhiều nhà sản xuất Phổ Nhĩ vẫn cứ trung thành với con số 357. Bí ấn gì nằm sau dãy số này?

Bên cạnh hệ đo lường quốc tế SI (Système International d’unités) hay mét-kilogram-giây đã quá phổ biến. Thì nhiều người Trung Quốc vẫn giữ hệ thống đo lường cũ của họ là Thị Dụng Chế (dùng để cân hàng hoá ở chợ). Đối với hệ thống cũ thì 1 cân bằng 500g của chuẩn đo lường quốc tế.

Mặc cho vào năm 1984, chính phủ Trung Quốc yêu cầu hệ thống đo lường cũ chỉ được phép sử dụng cho đến hết 1990. Sau đó phải chuyển qua chuẩn quốc tế hết. Nhưng do sự phổ cập của mình nên kiểu cân đo cũ này vẫn mãi tồn tại ở nhiều khu chợ kiểu cũ của Trung Quốc. Rất nhiều người làm trà cũng vẫn giữ cách cân đo này, họ vẫn bán trà theo cân, và một cân thì bằng 500g.

Người làm trà Phổ Nhĩ sau khi đóng bánh trà, thì họ thường buộc 7 bánh làm một. 7 bánh trà này được gói lại bằng giấy hay lá tre, sau đó buộc chặt bằng lạt tre. Mỗi một kiện gồm 7 bánh trà như vậy gọi là ‘đồng’, và khi bán cho khách thì người làm trà sẽ bán từng đồng như vậy. Chứ hiếm khi nào bán lẻ từng bánh một. Người mua theo ‘đồng’ chủ yếu là chủ cửa hàng trà, họ mua về để bán lẻ lại từng bánh một. Con số 7 được chọn vì trong tiếng Trung Quốc, số 7 đọc gần giống với chữ ‘khởi’ cho sự khởi đầu mới, và chữ ‘khí’ tượng trưng cho không khí và sự sống.

Tại sao bánh trà Phổ Nhĩ lại hay có cân nặng là 357g? 22
Một ‘đồng’ trà Phổ Nhĩ như vậy bao gồm 7 bánh. Ảnh: puerth.fr

Sở dĩ từng bánh có cân nặng 357g là vì khi cho 7 bánh vào một như vậy. Thì tổng cân nặng của một ‘đồng’ là 357g x 7 là 2499g. Mà 2499g là gần như 2.5kg, và 2.5kg có nghĩa là tròn 5 cân. Đối với người Trung Quốc thì 5 là con số tròn trịa, tượng trưng cho ngũ hành.

Hiện nay thì ngoài khối lượng 357g phổ biến. Thì bánh trà Phổ nhĩ còn được đóng nhiều dưới dạng như 100g, 200g và 500g. Vì sau này người làm trà không còn quan trọng nhiều vào những con số ‘phong thuỷ’ như vậy nữa. Ngoài ra thì các nước phương Tây dần trở thành thị trường lớn cho trà Phổ Nhĩ. Và đóng bánh trà thành số chẵn sẽ dễ giao dịch hơn rất nhiều.

Trà Phổ Nhĩ: hướng đầu tư của doanh nhân trẻ Malaysia

trà phổ nhĩ

Malaysia có cộng đồng người Hoa lớn nên không ngạc nhiên khi các sản phẩm trà và trà cụ của Trung Quốc được ưa chuộng tại quốc gia này, trong đó có trà Phổ Nhĩ. Trà Phổ Nhĩ là loại trà thường được làm từ lá của những cây cổ thụ mọc ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) hay vùng Tây Bắc của Việt Nam. Khác với những loại trà khác thì trà Phổ Nhĩ thường được đóng thành bánh trà và có quá trình lên men liên tục lên đến hàng chục năm, nên đối với loại trà này thì càng để lâu thì càng thơm ngon và càng đắt giá. Những bánh trà Phổ Nhĩ làm từ lá cây trà cổ trên dưới 500 năm tuổi và có thời gian lên men vài chục năm có thể đắt như vàng. Trà vốn đã có giá cao, để càng lâu lại càng đắt nên nhiều bạn trẻ ở Malaysia đã đầu từ vào loại trà này.

Trong vòng 5 năm qua, việc kinh doanh trà Phổ Nhĩ đã thu hút nhiều doanh nhân trẻ có độ tuổi dưới 40 vì tỷ suất hoàn vốn khá cao và ổn định, rơi vào khoảng 10-15% mỗi năm. (Ví dụ là vốn đầu tư ban đầu 10 đồng thì doanh thu năm đầu là 11-11.5 đồng và cứ tăng dần từng năm).

Những vùng trà Phổ Nhĩ nổi tiếng nhất có thể kể đến như Lão Ban Chương (được xếp là đứng đầu về Phổ Nhĩ sống) và núi Dị Võ thuộc khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Bánh trà Phổ Nhĩ nặng 357g đến từ những vùng này có giá từ 2 cho đến 11 triệu đồng một bánh tuỳ theo chất lượng. Trong khi khoảng 2007  và trước đó thì những bánh trà này chỉ có giá từ 1 cho đến 1.5 triệu đồng.

Còn trà đến từ những vùng ít tiếng tăm hơn một chút như núi Nan Noạ, Cảnh Mại, Lão Man Nga hay Mãnh Tống (thuộc vùng trà cổ thụ danh tiếng Mãnh Hải) cũng nằm trong khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp thì có giá hiện thời là 2 đến 4 triệu cho một bánh 357g, trong khi đó giá vào năm 2007 chỉ là khoảng 450 nghìn đồng.

trà phổ nhĩ
Kệ trà Phổ Nhĩ. Ảnh: thestar.com.my

Giá trà không rẻ nhưng khi số với những nghành nghề khác ở Malaysia thì việc kinh doanh trà Phổ Nhĩ không đòi hỏi quá nhiều vốn ban đầu. Để kinh doanh trà Phổ Nhĩ thì vốn đầu tư ban đầu cần khoảng 300.000 ringgit (khoảng 1.5 tỷ đồng), trong đó khoảng 200.000 ringgit (1 tỷ) là dùng để thu mua trà còn số tiền còn lại được dùng để đầu tư vào cửa hàng cũng như các nội thất khác. (Lưu ý là đang nói về Malaysia, quốc gia có thu nhập đầu người gấp 5 lần Việt Nam) Trong khi đó vào khoảng 10 năm trước thì chỉ cần khoảng 200.000 ringgit (1 tỷ đồng) là đủ chi phí cho tất cả, bao gồm trà lẫn cửa hàng và nhiều chi phí khác.

Ngoài vốn nhẹ, các bạn trẻ còn bị thu hút vào việc kinh doanh trà Phổ Nhĩ vì việc thu mua trà có thể thực hiện qua mạng Internet, thay vì theo cách truyền thống là phải đến tận nơi để thu mua. Ở Malaysia thì một trong những ngôn ngữ phổ biến nhất là tiếng Trung Quốc, thế những nhà kinh doanh trà trẻ tuổi này có thể dễ dàng tìm đến được các nhà cung cấp trà ở ngay Trung Quốc qua những trang mua sắm nổi tiếng như Taobao chẳng hạn.

Tuy nhiên, dù mạng Internet đã góp phần nối liền khoảng cách nhưng việc mua trà sỉ qua Internet cũng gian nan chẳng kém cách truyền thống. Vì bên cạnh kiến thức cơ bản về trà thì cần phải nắm rõ về xu hướng của nghành trà nếu không sẽ dễ gặp thất bại. Lấy ví dụ là trước đây các xưởng trà nổi tiếng thường kết hợp lá của cây trà đến nhiều vùng trà khác nhau, thậm chí là mùa khác nhau vào một bánh trà. Thế nhưng những năm gần đây thì người uống trà lại có xu hướng uống những bánh trà Phổ Nhĩ làm từ lá của những cây trà đến từ cùng một vùng mà thôi. Chính điều này đã khiến những bánh trà Phổ Nhĩ làm theo kiểu cũ đang có giá thật cao bỗng nhiên trượt dài vì nhu cầu không cao nữa. Những người lỡ gom những bánh trà kiểu cũ vào thời điểm giá đang cao, thì cũng đành bán với giá rẻ hơn vào giai đoạn trượt giá. Kinh doanh Phổ Nhĩ dễ sinh lời nhưng cũng lắm rủi ro nếu không nắm được thông tin.

Thời điểm mà các nhà kinh doanh Malaysia gom trà Phổ Nhĩ nhiều nhất là vao giai đoạn 2006 đến 2008. Lúc này giá loại trà này đang nằm ở đáy nên nhiều nhà đầu tư có tầm nhìn đã bỏ tiền ra để gom thật nhiều trà để cất kho. Khi đến giai đoạn giá trà hồi phục  và có dấu hiệu tăng trở lại vào 2009 thì những người này lại bắt đầu mở cửa hàng và tung các bánh trà được lưu trữ ra bán. Cứ thế giá trà cứ tăng nhanh, thậm chí vào năm 2012 giá trà còn tăng gấp 5-6 lần so với giai đoạn khủng hoảng. Theo thống kê thì chỉ riêng miền Bắc Malaysia thôi thì đã có khoảng 100 doanh nghiệp lớn nhỏ kinh doanh trà Phổ Nhĩ. Chính nguồn cung dồi dào này nên giá các loại trà bánh ở khu vực này luôn được giữ ở mức cạnh tranh và hợp túi tiền người tiêu dùng.

Người Malaysia rất thích uống trà Phổ Nhĩ, khoảng 60 đến 70% lượng trà Trung Quốc được tiêu thụ tại nơi đây là trà Phổ Nhĩ. Trà Phổ Nhĩ được làm từ lá của những cây trà trên 100 tuổi rất có giá, vì những cây trà này có bộ rễ cắm rất sâu vào lòng đất và hấp thu nhiều thành phần chất dinh dưỡng khác nhau tạo nên hương vị riêng của cây trà cổ. Phú quý sinh lễ nghĩa nên nhiều công ty cũng lùng mua những bánh trà quý để tặng cho đối tác. Ít thì những bánh vài trăm cho đến vài triệu đồng, có công ty còn sẵn sàng bỏ ra cả trăm triệu để mua bánh trà cổ từ Lão Ban Chương.

trà phổ nhĩ, quà tặng trà
Hộp trà Phổ Nhĩ để làm quà biếu. Ảnh: thestar.com.my

Tuy nhiên hiện nay sức mua trà Phổ Nhĩ ở Malaysia đang có dấu hiệu giảm dần vì đồng tiền ringgit của quốc gia này bị mất giá, khiến giá nhập khẩu trà tăng cao lên đến 30%. Vì Phổ Nhĩ là loại trà để càng lâu càng ngon, thế nên những người mua trà cũng lại không có hứng thú mua trà mới, thay vào đó họ lại mang những bánh trà mà họ để dành qua vài năm để pha. Khiến nhu cầu mua trà Phổ Nhĩ sụt giảm. Thậm chí khi ghé trà quán thì những người này cũng cầm bánh trà của họ theo để pha cho tiết kiệm chứ không pha trà của quán.

Điều này không có nghĩa là những người bán trà Malaysia không có hy vọng vào tương lai, vì họ luôn hy vọng vào sự hồi phục của đồng ringgit. Chưa kể đến việc ngày càng có nhiều người trẻ khoảng 25-35 tuổi có hứng thú với trà, dù thu nhập bình quân của họ không được cao bằng nhóm dân số trên 35 tuổi. Malaysia lại có không khí ẩm rất hợp cho trà Phổ Nhĩ lên men nhanh nên những người bán trà nơi đây rất lạc quan vào tương lai.

Tiến Vũ

(theo The Star)

Ba cây trà cổ thụ nhiều tuổi nhất thế giới

Ba cây trà cổ thụ nhiều tuổi nhất thế giới 23

Nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng nguồn gốc trà của thế giới nằm ở khu vực bao gồm tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), tây bắc Việt Nam, bắc Lào và bắc Myanmar. Cách mà họ sử dụng để chứng minh cho kết luận của mình đó là đo tuổi của những cây trà cổ thụ ở khu vực này. Và kết quả là nơi đây có rất nhiều cây trà trên 100 năm tuổi, nổi bật trong số này đó là 3 cây trà có tuổi đời thấp nhất là 800 năm tuổi và cao nhất là 1.800 năm tuổi.

Trà cổ thụ là gì?

Trà cổ thụ hay trà shan tuyết cổ thụ là cách gọi của người Việt Nam dành cho một chi của cây trà có tên là khoa học là Camellia taliensis. Ở Vân Nam thì người ta hay gọi những cây trà này là dã trà hay bổn sơn trà, nhưng để cho dễ hiểu thì bài viết này sẽ dùng cách gọi của người Việt đó là “trà cổ thụ”. Cây trà cổ thụ thường có chiều cao khoảng 2-10m và thường mọc ở vùng núi có độ cao khoảng 1.300 – 2.7000m so với mặt nước biển. Ngoài kích thước lớn hơn thì trà cổ thụ khác với trà vườn (Camellia sinensis) ở chỗ là quả của trà cổ thụ có 5 múi (dạng múi như múi cau) còn quả của trà vườn chỉ có 3 múi mà thôi. Lá của cây trà đã được hái làm thành trà từ khoảng 1.300 năm trước, và được thuần hoá vào khoảng vài trăm năm đổ lại. Trà cổ thụ có thể được chế biến thành nhiều loại trà khác nhau, nhưng nổi tiếng nhất chính là trà Phổ Nhĩ – một dạng trà lên men và thường được đóng thành bánh. Cây trà cổ thụ thường sống khoảng vài trăm năm tuổi nhưng có một số cây có thể sống hơn 500 năm và lên đến gần 2 thế kỷ.

Và đây là 3 cây trà nhiều tuổi nhất thế giới.

Ba Đạt

Ba Đạt là tên của cây trà cổ thụ nhiều tuổi nhất thế giới với độ tuổi được ước tính là đã hơn 1.800 năm tuổi. Cây trà này còn được gọi là “Mãnh Hải Trà Vương” vì nó mọc ở độ cao 1.900m ở huyện Mãnh Hải – là một huyện thuộc khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) – cũng là vùng có nhiều cây trà cổ thụ, và Ba Đạt là nhiều tuổi nhất nên được ví là “vua trà”. Nổi tiếng trong vùng từ rất lâu nhưng phải đến năm 1961 thì Ba Đạt mới chính thức được nghiên cứu, và các nhà khoa học gia của Trung Quốc xác nhận là cây trà cao 34m và đã hơn 1.800 năm tuổi. Đây là một trong những nỗ lực của họ để phản bác lại kết luận của khoa học gia người Anh là nguồn gốc của nhóm cây trà lá to là nằm ở Ấn Độ. Sau khi Trung Quốc công bố Ba Đạt là cây trà nhiều tuổi nhất thế giới thì có rất nhiều chuyên gia và những người yêu trà từ khắp nơi trên thế giới đổ về để được chiêm ngưỡng cây trà cổ thụ này. Tuy nhiên, Ba Đạt đã bị đốn hạ vào cuối năm 2012. Theo nhiều chuyên gia kết luận thì cây trà đã đến cuối vòng đời của mình, thân và cành đã mụt rỗng, cộng với sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt nên cuối cùng đành phải bị đốn hạ.

trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Cây trà ba Đạt khi còn sống. Ảnh: yunnan.cn
trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Ba Đạt bị đốn hạ vào năm 2012. Ảnh: yunnan.cn

Cây trà cổ thụ Bang Uy

Bang Uy là một làng nhỏ vùng cao thuộc huyện Lan Thương, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Ở đây nổi tiếng với sự hiện diện của một cây trà cổ thụ trên 1.000 năm tuổi được đặt dưới sự bảo vệ của chính phủ. Thậm chí là vào năm 1997 thì hình ảnh của cây trà cổ thụ Bang Uy còn được xuất hiện trên bộ tem quốc gia ban hành bởi Bộ Truyền Thông và Thông Tin của Trung Quốc.

trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Ảnh: tieba.baidu.com

Lão trà vương núi Nan Noạ

Núi Nan Noạ là ngọn núi nằm gần thành phố Lí Xử, thủ đô của khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp của tỉnh Vân Nam. Nơi đây cũng chính là nơi mà hợp tác xã trà đầu tiên của tỉnh Vân Nam ra đời vào năm 1938. Nhưng đây không phải là điều duy nhất khiến cho Nan Noạ được chú ý mà chính rừng trà cổ thụ nơi đây mà người dân gọi là “lão trà vương”. Vào năm 1952, một nhà thực vật học người Nga (Liên Xô cũ) đã nghiên cứu và phát hiện ra rừng trà ở Nan Noạ có rất nhiều cây trà khoảng 800 năm tuổi, một số cây còn hơn 1.000 năm tuổi. Cây trà cổ thụ sống đến 800 năm tuổi là khá hiếm mà Nan Noạ lại có nhiều cây như vậy nên tin này mới gây chấn động vào thời gian này. Tuy nhiên vào thập niên 80s thì những cây “lão trà vương” bắt đầu chết dần. Do không dự liệu được từ trước nên chính phủ và các nhà nghiên cứu cũng đành phải bất lực nhìn những cây trà cổ thụ dần chết đi. Rất may là vào năm 2012 thì những chuyên gia trà đến từ Học Viện Khoa Học Nông Nghiệp Vân Nam đã khám phá ra rằng còn một cây “lão trà vương” vẫn còn tồn tại ở một gia đình trong vùng, và khi họ tìm hiểu thì cây trà này được trồng trong khoảng triều đại nhà Tống và đã hơn 800 năm tuổi. Rút kinh nghiệm thì chính quyền địa phương đã ban hành luật để bảo vệ cây trà và chỉ người làm trà được chọn mới được hái và chế biến trà từ cây trà này.

trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Ảnh: puer.caiyn.net

Tiến Vũ