Nhắc đến trà Việt, không một người yêu trà nào có thể bỏ qua vùng đất Thái Nguyên. Nơi đây được mệnh danh là “đệ nhất danh trà” bởi thứ hương vị đậm đà và tinh tế khó quên.
Thế nhưng, bước vào một cửa hàng trà, bạn sẽ rất dễ bối rối trước vô vàn cái tên: Trà Đinh, Trà Nõn Tôm, Trà Móc Câu, Trà Búp, Trà Tấm… Vậy mỗi loại khác nhau như thế nào? Chọn loại đắt tiền chưa chắc là sẽ uống hợp “gu”.
Vậy nên trong bài viết này thì mình sẽ giới thiệu cho bạn từng loại trà kể trên. Rồi đặc trưng cũng như giá cả của từng loại ra sao. Tin mình đi, cái cần là mua được dòng trà uống hợp, chứ không phải cứ càng đắt là càng tốt.
1. Trà Đinh Thái Nguyên – Bùng nổ vị ngọt (umami)
Một yếu tố quan trọng tạo nên độ đắt đỏ của trà, đó chính là độ non của lá trà. Nghĩa là lá trà càng non thì lại càng đắt. Ở Thái Nguyên thì thì Trà Đinh chính là loại trà đắt nhất. Cái tên “Trà Đinh” xuất phát từ hình dáng của những búp trà hái đầu mùa. Búp trà thẳng và nhỏ như chiếc đinh nên mới có tên là trà đinh.
-
Nguyên liệu và chế biến: Để làm ra một kg trà Đinh thành phẩm, thì người làm trà phải tỉ mỉ hái hàng chục nghìn búp trà. Nguyên liệu chỉ chọn một tôm (một búp non) duy nhất, trà phải là trà đầu vụ vì lúc này búp trà có độ “múp” cao nhất. Búp trà thường được hái trong khoảng thời gian từ 7 đến 9 giờ sáng, khi sương đang dần tan và nắng chưa gắt. Mục đích là để giữ hàm lượng nước đủ để mà lá trà có thể trải qua nhiều công đoạn chế biến sau này.
-
Hình dáng: Trà đinh khi hái có cánh xanh và thẳng. Đến khi thành phẩm có cánh trà mỏng và cong. Do trổ cùng thời gian nên cánh trà đều tăm tắp, màu xanh đen óng ả. Đổ cánh trà ra tay, rồi từ tay thả trà vào ấm, thì sẽ thấy lòng bàn tay hơi bám một lớp bột xanh, đấy là lông tơ (mao) của búp trà non.
-
Hương vị: Trà Đinh chính là tinh hoa của trà Thái Nguyên thượng hạng. Khi pha thì nước trà trong xanh màu cốm non. Đối độ non này thì trà sẽ nhiều hương xanh tươi của hoa cỏ, vị thơm giòn của cốm nếp sẽ nhè nhẹ thôi. Vẫn là hương vị thanh khiết đặc trưng của vùng chè Tân Cương hay La Bằng, nhưng nhẹ nhàng và dịu dàng. Trà sẽ có vị cực kỳ đơn giản, thiên nhiều về vị ngọt (umami), vì búp trà thường sẽ chứa hàm lượng l-theanine cao hơn rất nhiều so với những lá non kế tiếp. Đây là dòng trà hợp cho những người thích vị thiên ngọt và thanh thoát.
Trà Đinh có giá thành cao nhất trong tất cả các loại trà ở Thái Nguyên, bởi sự khan hiếm và công phu trong từng công đoạn. Đây là lựa chọn nếu bạn muốn thưởng thức những gì tinh tuý nhất của cây trà.
Mua các loại trà Thái Nguyên →
2. Trà Nõn Tôm Thái Nguyên – Hương vị cân bằng tinh tế
Nếu Trà Đinh là “vua” thì Trà Nõn Tôm Thái Nguyên chính là “hoàng hậu” về chất lượng. Khác với trà đinh thì trà nõn tôm được hái “già” hơn một chút.
-
Nguyên liệu và chế biến: Đúng như tên gọi “Nõn Tôm”, loại trà này được chế biến từ búp trà gồm một tôm (nõn) và một lá non thứ nhất. Đây là cách hái “một tôm, một lá”. Trong cuốn “Trà kinh” Lục Vũ thì ông có chép là: “Trà giả, phương thái nhất nha nhất diệp” (nghĩa là trà ngon, nên hái một búp một lá). Nhiều loại trà xanh cao cấp trên thế giới cũng hái kiểu này. Như Bích Loa Xuân hay Long Tỉnh dòng cao cấp thật sự.
-
Hình dáng: Cánh trà Nõn Tôm to và dài hơn trà Đinh một chút, nhưng vẫn săn chắc, xoăn đẹp và có màu xanh đen óng ả. Khi nhìn bằng mắt thường, có thể thấy rõ phần búp trà mỏng như sợi chỉ, và một phần cuộn tròn của lá non.
-
Hương vị: Trà Nõn Tôm là sự kết hợp hài hòa giữa độ tươi mới và bùi ngậy đặc trưng của dòng trà sao chảo truyền thống của Việt Nam. Nước trà có màu xanh lá chuối trong veo và sánh. Trà có hương mạ non, cốm nếp chín, vị ngọt bùi, hơi đắng nhưng tan nhanh thành hậu ngọt.
Đây là dòng trà được phần lớn người yêu trà lựa chọn để uống hàng ngày hoặc làm quà tặng sang trọng. Giá trà Thái Nguyên loại Nõn Tôm thường ở mức khá cao, phản ánh đúng chất lượng trà Thái Nguyên đặc sản mà nó mang lại.
3. Trà Móc Câu Thái Nguyên – Đậm đà kiểu truyền thống
Trà Móc Câu Thái Nguyên là cái tên rất quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Trà Móc Câu được cho là ra đời vào những năm 30 – 40 của thế kỷ 20 ở Tân Cương (tỉnh Thái Nguyên). Tên gọi của trà được bắt nguồn từ hình dáng bên ngoài của cánh trà sau khi sao. Khi nhìn những cánh trà khô cong và đen óng. Thì người dân làm trà và thương lái thấy chúng giống những chiếc móc câu nhỏ xíu, nên gọi tên luôn là trà Móc Câu.
Trà Móc Câu là kết quả của kỹ thuật ” vò cuộn” được xem là một bước tiến trong chế biến trà thời bấy giờ. Người Pháp gọi nó là “Thé roulé” (trà cuộn tròn). Lá trà được vò cuộn theo hình tròn để trà thành phẩm vừa cuộn xoắn vừa cong lại. Cách làm này không chỉ giúp tạo hình, mà còn giúp bảo quản trà tốt hơn. Vì cánh trà cong khi cho vào túi sẽ đỡ chiếm diện tích hơn, kết cấu cong cũng giúp chịu lực nén tốt nên cánh trà đỡ gãy nát hơn.
-
Nguyên liệu: Trà Móc Câu được chế biến từ búp trà gồm một tôm và hai hoặc ba lá non. Đây là cách hái chuẩn chung cho những dòng trà cao cấp. Không chỉ ở Việt Nam mà còn ở những quốc gia mạnh về trà khác như Trung Quốc, Nhật Bản hay Ấn Độ.
- Hình dáng: Những cánh trà sau khi sao khô sẽ cuộn tròn lại. Phần đầu búp sẽ mỏng và nhọn, phần lá gần cuống lại to và dày, nhìn không khác gì những chiếc móc câu nhỏ xíu.
-
Hương vị: So với hai loại trên, trà Móc Câu có hương vị đậm và đầy đủ nhất. Mang đủ nét đặc trưng của dòng trà truyền thống ở Thái Nguyên. Đậm có, ngọt bùi có, hậu có. Hương thơm thì bùi ngậy như nếp chín ngày mùa. Thơm giòn của chất trà và của quá trình “đánh hương” chỉn chu.
Có một điều cần lưu ý là Trà Móc Câu không hẳn là một giống trà chuyên biệt. Mà là một phương pháp chế biến trà, ở đây là “vò cuộn” nhiều để tạo hình cong. Nên những dòng trà giá phổ thông hơn, tức là hái “lửng” hay hái già, được chế biến theo cùng phương pháp vẫn có thể gọi là “móc câu”.
Vậy nên có những dòng trà Móc Câu giá phổ thông với búp trà vẫn cong nhưng thô dày. Giá chỉ khoảng một vài trăm nghìn cho một kg. Tất nhiên là lá già sẽ thiên về “xơ” hơn là “chất”. Nên hương vị sẽ thua những dòng cao cấp được hái chuẩn hơn.
4. Trà Tấm – Ngon bổ rẻ
Trà tấm là những cánh trà bị gãy và vỡ ra từ các loại trà cánh lớn hơn (như trà Móc Câu, trà Nõn Tôm) trong quá trình sao, vò, sàng lọc và đóng gói. Từ “tấm” ở đây có nghĩa là mảnh nhỏ vụn (như cơm tấm).
Trà tấm khác với trà cám. Trà tấm là những mảnh vỡ trà, còn trà cám thì gần như bột. Cho nên trà tấm thường sẽ đắt hơn nhiều so với trà cám.
Trà tấm ở Thái Nguyên thường sẽ có 2 loại. Loại cao cấp hơn được gọi tấm nõn, tức là được lọc ra từ những dòng trà ngon như trà Nõn Tôm hay Móc Câu cao cấp. Còn loại nữa chỉ trà tấm thôi, tức là được lọc ra từ những dòng trà có chất lượng bình thường.
-
Hình dáng: Là những mảnh vụn, không còn nguyên cánh, lẫn cả cuống non và mảnh lá vỡ. Tấm nõn sẽ thấy một ít phần búp trắng lẫn lộn. Còn tấm thường sẽ không thấy phần búp lẫn vào.
-
Hương vị: Bề mặt tiếp xúc của trà tấm với nước rất lớn. Do đó, khi pha thì trà tấm sẽ cho ra chất trà cực nhanh và rất đậm. Hương vị sẽ có một phần nào giống với các loại trà cao cấp.
Vùng trà làm nên danh tiếng: Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Phúc Xuân
Nói về trà Thái Nguyên, không thể không nhắc đến những “thánh địa” đã làm nên tên tuổi cho loại đồ uống này. Mỗi vùng trà lại có một nét đặc trưng riêng:
-
Chè Tân Cương: Đây là vùng đất lịch sử của trà Thái Nguyên. Vì những cây trà giống đầu tiên đã được trồng ở nơi đây vào những năm 1920s. Nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc biệt, trà Tân Cương thường có thiên hướng ngọt, chát thanh và nhiều hương “cốm” non. Giống chủ đạo là các giống chè Ta (Trung Du), Cành Lai hay Kim Tuyên (Kim Huyên). Gần Tân Cương có Phúc Trìu và Phúc Xuân có hương vị cũng rất giống.
-
Chè La Bằng: Nằm ở vùng cao hơn một chút so với Tân Cương, nằm thoai thoải ở khu vực sườn đông núi Tam Đảo. Là một dạng địa hình kiểu bán sơn địa, trà La Bằng nổi tiếng với hương vị tươi mới, đậm rõ tạo tương phản rất tốt với hậu ngọt dài và sâu. Một số giống đặc trưng có thể kể đến là Long Vân, Tuyết Shan hay Bát Tiên. Gần La Bằng có vùng trà Hoàng Nông có chất lượng cũng rất tốt.
-
Chè Trại Cài: Nằm ven dòng sông Công, nên đất trà Trại Cài khá màu mỡ. Khi xưa thì vùng trà này được quy hoạch theo hướng “số lượng” với các vườn trà lớn, hơn là thương hiệu như Tân Cương. Nhưng không có nghĩa là chất trà Trại Cài thua kém. Trà ở Trại Cài thường có hơi hướng “ấm” hơn trà những vùng khác. Trà nơi đây có độ thơm giòn cao đến từ quá trình đánh hương tỉ mỉ. Vị trà cũng rất đậm đà.
-
Chè Thịnh Đán: Đây là một trong những cái tên ít còn được nhắc đến nhiều hiện nay. Vì quá trình đô thị hoá khiến diện tích trồng trà ở nơi đây bị thu nhỏ. Nhưng vùng đất này có bề dày lịch sử gắn liền với cây trà. Do nằm sát phủ Thái Nguyên khi xưa nên nơi đây từng là vùng trà rất phát triển. Người Pháp cũng từng mở Trường canh nông để nghiên cứu giống và quy chuẩn hoá quá trình canh tác cũng như chế biến trà. Ở Thịnh Đán vẫn còn sót lại khá nhiều gốc trà giống Trung Du cổ.
Làm sao để chọn trà phù hợp?
-
Nếu bạn là người mới tập uống trà, yêu thích vị ngọt và Cốm: Hãy chọn Trà Đinh hoặc Trà Nõn Tôm từ vùng Tân Cương hay La Bằng.
-
Nếu bạn là người uống trà lâu năm, thích vị trà đậm đà, tỉnh táo thật sự: Trà Móc Câu từ vùng La Bằng hay Trại Cài sẽ là lựa chọn tuyệt vời.
-
Nếu bạn cần một loại trà để uống giải khát hàng ngày với chi phí tiết kiệm: Trà Tấm là sự lựa chọn hợp lý. Dòng trà này nhiều hàng trà đá vỉa hè cũng hay mua của bên mình.