trà thái nguyên, chè thái nguyên, trà tân cương thái nguyên, trà xanh thái nguyên, trà xanh, chè xanh

1. Tổng quan lịch sử trà Việt Nam

Trước khi đi sâu vào lịch sử vùng trà Thái Nguyên, lịch sử tự nhiên và văn hóa chỉ ra rằng Việt Nam nằm trong vành đai nguồn gốc nguyên thủy của cây chè (Camellia sinensis).

Theo các thuyết về nguồn gốc cây trà, thì “gốc” của cây trà có thể nằm ở khu vực giao của Myanmar, Tây Tạng và Vân Nam. Hoặc nhận định khác thì đâu đó ở khu vực Vân Nam, Tứ Xuyên và Quý Châu (đều thuộc Trung Quốc).

Gốc trà nằm chính xác ở đâu chưa rõ. Nhưng gần như chắc chắn Việt Nam thuộc khu vực nguồn gốc nguyên thuỷ này. Bằng chứng đến từ quần thể trà hoang dã ở các khu vực Tây Bắc. Chẳng hạn như các loại trà móng rồng, trà tiên hay trà rừng. Cũng như những cây trà “cao cổ” (trà cổ thụ mọc cao trong rừng) hàng chục mét trong rừng. Đến ở Thái Nguyên cũng có một số những cây trà cao cổ này.

Về mặt tiêu dùng và sử dụng, thì người Việt đã uống trà từ xa xưa. Xa bao lâu thì khó xác định rõ vì ít có ghi chép rõ ràng. Bằng chứng xa nhất là người viết tìm được là một ghi chép cổ có nhắc về trà ở núi Hành Sơn từ thế kỷ thứ 9. Có ghi là trà sản xuất ở núi này (tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay), được bán khắp nơi. Có ghi rõ là bán xa xôi đến tận Giao Chỉ, và người Giao Chỉ có dùng.

Xem thêm:  Trà Mạn Thái Nguyên

Khi nhắc về trà thì thường hay nhắc đến Trà Mã Cổ Đạo. Tuyến đường thông thương trao đổi trà – ngựa nối giữa Vân Nam và Tây Tạng. Thế nhưng ít ai biết là từ Vân Nam còn có một con đường giao thương về Việt Nam. Gọi là Cổ đạo Điền Việt. Nhóm hàng trao đổi chủ yếu đó là trà, muối, lâm sản và vải vóc.

Với nguồn tài nguyên trà hoang dã tự nhiên ở vùng núi phía Bắc. Và với lịch sử tiêu dùng cũng như giao thương lâu đời, thì có thể nói Việt Nam đã sớm hình thành một nền văn hóa trà riêng.

2. Cách mạng trà thời Pháp thuộc

Trước năm 1882 thì hoạt động sản xuất trà tại Việt Nam mang tính tự phát, phân tán nhỏ lẻ ở các khu vực vùng trung du cũng như núi cao.

Khi chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập bộ máy bảo hộ ở nước ta. Thì người Pháp bắt đầu tái cấu trúc ngành trà theo phương thức công nghiệp hóa. Bằng việc đưa vào máy móc và thành lập các đồn điền lớn như Société Chaffanjon (đồn điền Tình Cương, Phú Thọ thành lập năm 1890) hay Trạm Thí nghiệm Nông nghiệp Phú Hộ (năm 1918).

Tuy nhiên, các tài liệu lưu trữ thuộc địa thường ghi chép người Pháp có vai trò “khai hóa” và “nâng tầm” ngành trà của Việt Nam. Trong khi nghiên cứu lịch sử kinh tế đương đại đã cho góc nhìn khách quan hơn về giai đoạn này.

Bất chấp các chính sách và sự kiểm soát của chính quyền thực dân. Tác nhân thực sự biến vùng Trung du (như Phú Thọ và Thái Nguyên) trở thành những vùng trà lớn không đến từ dòng vốn của người Pháp.

Xem thêm:  Các Loại Trà Xanh Thượng Hạng

Mà đến từ phong trào di dân tự phát và sự mở rộng “bất hợp pháp” (theo luật thuộc địa xưa) của người nông dân Việt Nam. Chẳng hạn như vùng trà Thái Nguyên, khởi nguồn từ Tân Cương, cũng là do người dân tự khởi xướng và hình thành.

Chính những người nông dân bản xứ, bằng việc tự lập các “đồn điền” quy mô nhỏ. Rồi tự bỏ công sức (theo kiểu hộ gia đình), để khai khẩn các vùng đồi hoang. Rồi chính họ tự lực thúc đẩy sản lượng trà tăng trưởng vượt bậc trong suốt hai thập kỷ (1920-1940).

3. Lịch sử vùng trà Thái Nguyên

Về mặt lịch sử, thì xã Tân Cương có thể được xem là “cái nôi” của nguyên một vùng trà Thái Nguyên danh tiếng. Vào đầu những năm 1920s là giai đoạn cực thịnh của phong trào trồng trà. Theo truyền khẩu thì ở Tân Cương có cụ Vũ Văn Hiệt (thường gọi là ông Đội Năm) cũng đã lặn lội sang Phú Thọ, để xin cây trà giống và mang về trồng tại những vùng đồi thấp của Tân Cương.

Nhờ hợp khí hậu cũng như thổ nhưỡng địa phương, cây trà phát triển rất tốt. Riêng cụ Hiệt nổi tiếng với thương hiệu riêng là trà “Con Hạc”. Trà của cụ từng đoạt giải cao trong một cuộc đấu xảo tại Hà Nội năm 1935, giúp thương hiệu trà Tân Cương nổi danh ở trong và ngoài nước.

Không chỉ tập trung phát triển thương hiệu riêng. Cụ Hiệt còn hỗ trợ kỹ thuật canh tác và chế biến. Cây trà không chỉ trồng ở mỗi Tân Cương, mà lan sang các khu vực khác của tỉnh Thái Nguyên. Tạo nên danh tiếng đặc sản trà Thái Nguyên, hay có một thời gian là Bắc Thái (do đổi tên).

Xem thêm:  Cách Pha Trà Thái Nguyên Ngon

Mô hình lúc bấy giờ cũng tương tự như ở Phú Thọ, đó là hộ gia đình. Vẫn là thành viên của mỗi gia đình sẽ thực hiện các công đoạn từ canh tác cho đến chế biến. Và chính mô hình này vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay.

4. Sau “Đổi Mới”

Sau giai đoạn gián đoạn do chiến tranh (1945–1975) khiến các đồn điền cũ bị tàn phá và ít được chăm sóc, thì ngành trà đã từng bước hồi phục. Từ sau công cuộc Đổi Mới vào năm 1986, thì ngành trà Việt Nam đã bứt phá trở thành nước xuất khẩu lớn thuộc top đầu thế giới.

Riêng dòng trà Thái Nguyên lại có thiên hướng phục vụ thị trường nội địa hơn là xuất khẩu. Vì người Việt chuộng nhóm trà xanh hơn, còn trà đen thường sẽ chiếm tỷ trọng chính về mặt xuất khẩu. Vùng trà Thái Nguyên cũng hướng tới phân khúc “đặc sản”, thay vì chọn chọn hướng đi cạnh tranh về mặt giá cả để chiều lòng khách hàng nước ngoài.

5. Di sản phi vật thể

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, vùng trà Tân Cương ngày nay không chỉ là một “đất trà” đơn thuần, mà đã dần được xem là một “biểu tượng văn hóa” của Việt Nam.

Vào năm 2023, thì Tân Cương được nhà nước chính thức công nhận: Tri thức trồng và chế biến chè Tân Cương được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Và có 12 cây chè cổ thụ tại Tân Cương đã được công nhận là “Cây di sản Việt Nam”.

Vũ Trọng Tiến sinh ra trong gia đình có nghề trà truyền thống ở Thái Nguyên. Không chỉ tập trung sản xuất, anh còn có niềm đam mê nghiên cứu và sưu tầm trà. Theo dõi blog Danh Trà để xem các bài viết của Tiến về thú sưu tầm cũng như kinh nghiệm thưởng trà.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close
Close
Sign in
Close
Cart (0)

Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng. Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng.


📞
📞 Thái Nguyên: 0916423152 📞 TP.HCM: 0867786079 💬 Nhắn Zalo 💙 Nhắn Facebook ✉️ Gửi mail