Tag Archives: trà cổ thụ

Trà Phổ Nhĩ: 5 Điều Cơ Bản Nên Biết

trà phổ nhĩ

TRÀ PHỔ NHĨ LÀ GÌ?

Cái tên Phổ Nhĩ bắt nguồn từ một thị trấn cùng tên ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Vào hàng nghìn năm trước thì thị trấn Phổ Nhĩ vốn là một trung tâm mua bán trà. Đây là nơi mà trà trồng ở các vùng của Vân Nam được mang đến để bán.

Chính vì vậy mà trà được làm ở Vân Nam đều được gọi là Phổ Nhĩ Trà. Sau Cách Mạng Văn Hoá thì thành phố Phổ Nhĩ được đổi tên là Tư Mao vào năm 1950.

Nhưng do cơn sốt trà Phổ Nhĩ nên vào năm 2007 thì chính quyền địa phương đã đổi về tên cũ là Phổ Nhĩ. Và cái tên này vẫn còn giữ mãi đến tận ngày nay.

trà phổ nhĩ

Yếu tố thứ hai giúp định nghĩa trà Phổ Nhĩ đó chính là nguyên liệu làm nên trà. Trà Phổ Nhĩ được làm từ lá của giống trà cổ thụ hoang dã. Giống trà cổ thụ này có 2 nhóm chính. Nhóm đầu tiên có lá trà to và một thân to chính. Còn nhóm thứ hai có lá nhỏ, nhiều thân nhỏ mọc lên từ một gốc.

Mua trà Phổ Nhĩ Việt Nam:

Phần lớn trà Phổ Nhĩ được làm từ nhóm trà lá to hay Đại Diệp Trà. Nhưng vẫn có một số ít được làm từ giống trà lá nhỏ. Hay còn được giới yêu trà Phổ Nhĩ gọi là Phổ Nhĩ Kim (hay Phổ Nhĩ lá nhỏ).

Nguyên liệu làm nên trà Phổ Nhĩ được phân định theo tuổi cây trà và vùng miền. Tuổi trà được phân thành 3 nhóm. Nguyên liệu từ cây trà hàng trăm năm tuổi được phân nhóm là Cổ Thụ. Cây trà hàng chục năm tuổi được gọi là Đại Thụ. Còn nhóm trà ít tuổi mới được trồng được gọi là Thai Địa Trà.

Trà Phổ Nhĩ: 5 Điều Cơ Bản Nên Biết 2

ĐẶT MUA TRÀ PHỔ NHĨ VIỆT NAM ➜

Để được gọi là Cổ Thụ thì cây trà phải ít nhất 100 năm tuổi. Và tất nhiên thì chất lượng nguyên liệu Cổ Thụ bao giờ cũng vượt trội hơn nhiều so với những nhóm trà ít tuổi hơn.

Và một yếu tố quan trọng khác giúp định nghĩa giá trị của nguyên liệu trà Phổ Nhĩ đó là vùng miền. Ở Vân Nam có những làng mà trà Phổ Nhĩ của họ đắt hơn rất nhiều lần những nơi khác.

Yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, vi khí hậu, nguồn nước, hệ vi sinh vật khiến cho trà Phổ Nhĩ ở một vùng có hương vị đặc biệt hơn hẳn các vùng khác. Cộng với việc những người yêu trà săn lùng thì giá trị trà Phổ Nhĩ ở vùng đó càng được đẩy lên chóng mặt.

Tất nhiên là sẽ luôn có sự ‘gian dối’ diễn ra. Trà đến từ vùng trà ít tiếng tăm mạo danh vùng nổi tiếng. Rồi cả trà ít tuổi được đóng mác là trà Cổ Thụ.

Vì vậy mà người yêu dòng trà Phổ Nhĩ cần trang bị đầy đủ kiến thức và đủ trải nghiệm để có thể phân định được thế nào là chất Cổ Thụ. Hay chất riêng của vùng trà danh tiếng nào đó.

CÔNG ĐOẠN LÀM MAO TRÀ

Trước khi có những bánh trà đẹp đẽ, trước khi có Phổ Nhĩ sống hoặc chín, thì mọi loại trà Phổ Nhĩ đều bắt đầu từ ‘mao trà’. Mao trà hay ‘trà thô’ là một dạng trà thành phẩm từ lá trà cổ thụ.

trà phổ nhĩ, mao trà

Lá trà cổ thụ sau khi hái sẽ được ‘diệt men’, vò và làm khô. Lý do ‘mao trà’ được gọi là trà thô vì những lá trà này chưa là trà Phổ Nhĩ hoàn chỉnh. ‘Mao trà’ được ép thành bánh để thành Phổ Nhĩ sống, hoặc được ủ lên men rồi đóng thành bánh Phổ Nhĩ chín.

Các công đoạn làm nên mao trà:

1. Làm héo

Lá trà sau khi hái sẽ được rải đều lên những chiếc nong bằng tre để ‘héo’. Mục đích của việc làm héo là khiến cho lá trà bị mất nước, qua đó lá trà sẽ dẻo dai hơn. Nhờ vậy mà khi vò thì lá trà sẽ đỡ rách và nát hơn.

Công đoạn làm héo được theo dõi rất kỹ bởi người làm trà. Vì không ai muốn lá trà vô tình bị oxy hoá quá nhiều cả. Lá trà thường được làm héo ngoài trời hoặc khu vực thoáng khí trong nhà.

2. Diệt men

Diệt men là giai đoạn mà ‘men’ hay enzyme trong lá trà được loại bỏ. Bằng cách xao lá trà trên chảo nóng. Nhờ vậy mà các thành phần tạo nên hương vị của lá trà không bị chuyển hoá bởi oxy trong không khí. Ngoài ra thì giúp trà bớt vị ‘xanh’ cũng như ‘đắng’ của lá trà tươi.

Ở Vân Nam hay các vùng trà miền Tây Bắc của Việt Nam thì người làm trà vẫn diệt men bằng chảo. Thay vì dùng những máy xao dạng thùng như ở các vùng trà khác.

Không giống như trà xanh thì trà Phổ Nhĩ được ‘diệt men’ không hoàn toàn. Tức là một phần nhỏ nhóm men polyphenol oxidase vẫn còn sót lại trong lá trà.

Nhờ vậy mà khi làm thành bánh trà Phổ Nhĩ sống thì bánh trà khi trữ lâu năm sẽ chuyển hoá thuận lợi hơn. Còn khi làm thành Phổ Nhĩ chín thì lá trà cũng sẽ lên men tốt hơn. Nhờ vậy mà hương vị cũng sẽ thơm ngon hơn.

3. Vò

Sau khi xao để ‘diệt men’ thì lá trà phải trải qua công đoạn vò. Lá trà được vò để lớp biểu cũng như hệ thống tế bào của lá trà bị phá vỡ. Nhờ vậy giúp giải thoát các thành phần hương vị của lá trà.

Chưa kể vò còn giúp cho chất trà sau khi thành phẩm sẽ dễ tiếp xúc với không khí hơn. Nên khi trữ lâu năm hay ủ lên men thì chất trà cũng sẽ dễ chuyển hoá hơn.

4. Làm khô

Theo truyền thống thì lá trà sau khi vò sẽ được làm khô bằng cách phơi nắng. Trà phơi sẽ có những hương vị đặc trưng riêng chỉ có ở trà được làm khô bằng cách phơi.

Tuy nhiên, để đảm bảo sản lượng cũng như tính đồng nhất trong hương vị, thì gần đây nhiều nơi họ làm khô bằng máy sấy.

Mao trà Phổ Nhĩ sau khi thành phẩm là có thể thưởng thức được rồi. Thậm chí là có thể trữ lâu năm. Mặc dù vậy thì mao trà thường sẽ phải trải qua 2 công đoạn khác nhau nữa. Để tạo nên Phổ Nhĩ sống và Phổ Nhĩ chín.

PHỔ NHĨ SỐNG VÀ PHỔ NHĨ CHÍN

Phổ Nhĩ Sống

Phổ Nhĩ Sống là nhóm trà Phổ Nhĩ không trải qua quá trình ủ lên men. Mao trà sau khi thành phẩm sẽ được mang đi ép thành bánh trà Phổ Nhĩ sống ngay.

Hoặc mao trà sẽ được trữ một thời cho lên men một chút rồi ép thành bánh. Những bánh Phổ Nhĩ sống này thường có hương vị dịu và đầm hơn những bánh được ép từ mao trà mới.

Chỉ những lá trà đẹp và nguyên vẹn mới được sử dụng để đi ép bánh. Mao trà được cân rồi cho vào những chiếc túi bằng vải. Những chiếc túi vải này được cho vào máy ép.

Hơi nước bốc lên từ máy ép khiến cho lá trà khô mềm và dai đi. Nhờ vậy mà khi ép thì lá trà được ép và quyện chặt với nhau thành một bánh trà.

Sau khi ép thì bánh trà được để trên kệ gỗ để khô từ từ. Tuỳ theo trà nguyên liệu mà bánh trà sẽ khô nhanh hay chậm. Từ vài giờ cho đến vài ngày, có khi cả tuần thì bánh trà mới khô. Sau khi bánh trà khô thì sẽ được mang đi bọc giấy.

bánh trà phổ nhĩ sống

Việc bọc giấy giúp bánh trà Phổ Nhĩ vẫn được tiếp xúc với không khí. Nhờ vậy mà khi trữ lâu năm thì bánh trà sẽ chuyển hoá cả về hương vị lẫn thành phần hoá học. Bánh trà trữ qua nhiều năm được gọi là Phổ Nhĩ Lâu Năm.

Một bánh trà Phổ Nhĩ sống được tin là đạt đến đỉnh cao lâu năm là 70 đến 80 năm. Mặc dù vậy thì không có nghĩa là phải trữ trà Phổ Nhĩ sống lâu năm mới dùng được. Mà bánh mới ra lò, hay trữ vài năm là có thể dùng được rồi.

Những bánh trà Phổ Nhĩ sống để lâu năm rất quý và đắt. Bản thân mình sau nhiều năm sưu tầm cũng chỉ sở hữu được những bánh được làm vào năm 1990s. Tức là khoảng hơn 30 năm mà thôi.

Trà Phổ Nhĩ càng mới thì lên men càng nhanh. Ví dụ như bánh trữ 5 năm sẽ rất khác bánh 10 năm. Nhưng bánh 25 năm thì không khác nhiều bánh 30 năm.

Nếu có thể thì bạn nên trữ bánh trà chứ không nên trữ mao trà. Cùng một nguyên liệu trà thì mao trà sẽ chuyển hóa nhanh hơn bánh. Nhiều người nghĩ càng chuyển hóa nhanh thì càng tốt. Thế nhưng khi trữ cùng một loại trà dưới dạng bánh và mao trà, thì mình thấy thì bánh để lâu phát triển tốt hơn mao trà về hương vị lẫn trà khí.

Nhiều người cũng có thói quen là mua bánh về rồi bẻ nhỏ ra để trà lên men nhanh. Theo kinh nghiệm riêng thì mình thấy không nên làm vậy. Mình nghĩ khi để nguyên bánh thì có vẻ như các vi sinh vật trên lá trà bị ép vào một không gian nhỏ. Nhờ vậy mà lá trà chuyển hoá tốt hơn qua thời gian.

Phổ Nhĩ Chín

Phổ Nhĩ Chín là nhóm trà Phổ Nhĩ phải trải qua quá trình ‘hậu lên men’. Công đoạn này bao gồm việc mao trà được chất thành đống, phun nước và được phủ bạt để làm tăng sức nóng trong quá trình ủ.

Đôi khi trà Phổ Nhĩ Chín thành phẩm được thêm vào trà mới ủ để kích thích hệ vi sinh vật phát triển nhanh hơn. Trà Phổ Nhĩ được xem là ‘chín’ hoàn toàn sau khoảng thời gian 45 đến 60 ngày. Nhưng có lúc nhà sản xuất họ ngừng ủ sớm để tạo ra trà Phổ Nhĩ chín một phần.

Làm trà Phổ Nhĩ Chín phức tạp hơn nhiều so với Phổ Nhĩ Sống. Mỗi nhà sản xuất lại có một cách làm và công thức riêng. Thế nên để miêu tả chi tiết cách làm Phổ Nhĩ Chín là việc ít ai nắm rõ được.

bánh trà phổ nhĩ chín

Công đoạn làm Phổ Nhĩ Chín được tạo ra là để mô phỏng rút ngắn quá trình lên men lâu năm của Phổ Nhĩ Sống. Thay vì phải chờ hàng chục năm thì chỉ mất hàng chục ngày.

Công thức Phổ Nhĩ Chín được tin là ra đời vào năm 1973. Khi các nhà sản xuất Phổ Nhĩ ở Vân Nam học hỏi cách làm ‘hắc trà’ từ những người đồng nghiệp của họ ở Quảng Đông. Lúc này tất cả các công ty trà đều là của nhà nước TQ nên rất dễ học hỏi lẫn nhau.

Do cách làm trà Phổ Nhĩ chín được học hỏi từ cách làm ‘hắc trà’. Thế nên Phổ Nhĩ Chín có thể được xếp vào nhóm Trà Phổ Nhĩ hay Hắc Trà thì cũng đều có phần đúng.

Nghiên cứu phân tích cho thấy trà Phổ Nhĩ Chín có thành phần hoá học và hệ vi sinh vật gần giống như Phổ Nhĩ Lâu Năm. Tuy nhiên, Phổ Nhĩ Chín không thể giống Phổ Nhĩ Lâu Năm về mặt hương vị hay trà khí được.

Bản thân trà Phổ Nhĩ Chín cũng có thể trữ lâu năm. Nhưng sự chuyển hoá về mặt hương vị sẽ không nhiều như trà Phổ Nhĩ Sống. Trà Phổ Nhĩ Chín trữ qua vài năm thường sẽ ngọt hơn và mùi ‘thối’ (ammonia) do quá trình ‘hậu len men’ sẽ phai đi nhiều.

CÁCH TRỮ TRÀ PHỔ NHĨ

Để trữ trà Phổ Nhĩ một cách tối ưu nhất, qua đó giúp trà chuyển hoá nhanh và đều thì bạn cần quan tâm 3 yếu tố sau:

  1. Thoáng khí
  2. Nhiệt độ mát
  3. Độ ẩm vừa phải

trà phổ nhĩ

Nếu muốn bánh trà Phổ Nhĩ mới chuyển hoá nhanh hơn thì bạn nên để bánh trà lên những chiếc kẹp chuyên dùng để kê trà Phổ Nhĩ. Những chiếc kẹp này hay được bán ở những nơi bán trà Phổ Nhĩ luôn.

Sau khi để lên những chiếc kẹp này thì bánh trà nên được xếp lên kệ gỗ. Bánh này cách bánh kia tầm vài cm. Bánh Trà Phổ Nhĩ Sống nên để riêng một nơi. Còn bánh chín thì nên để chung một nơi khác.

Kệ chưng trà Phổ Nhĩ nên để ở phòng mát và thoáng khí. Như phòng có cửa gió hay cửa sổ. Hoặc ngay giếng trời của nhà. Độ ẩm trong phòng nên vào khoảng 70-80%. Còn nhiệt độ phòng không nên quá nóng. Miễn sao chính bản thân bạn thấy mát và thoáng là được.

Bạn nên mua một chiếc nhiệt kế và ẩm kế điện tử để theo dõi môi trường của phòng. Nếu trời mưa hay nồm thì nên đóng cửa kính của kệ chưng trà cho bớt ẩm. Hoặc có thể cho một ít túi hút ẩm vào chung với trà.

Còn nếu không muốn trà lên men nhanh thì bạn nên cho bánh trà vào túi zipper. Khoá miệng túi lại là được.

CÁCH PHA TRÀ PHỔ NHĨ

Về cơ bản thì cánh trà Phổ Nhĩ rất ‘dày cơm’ nên loại trà này cần được pha với nước sôi 100 độ C. Chỉ ở mức nhiệt độ này thì mới đủ để mà chiết được hết thành phần hương vị của lá trà.

Ngoài ra thì bạn nên chọn loại ấm pha có công năng giữ nhiệt độ tốt. Như các loại ấm đất hay ấm tử sa. Riêng mình thì thích dùng ấm tử sa đất Tử Nê để pha trà Phổ Nhĩ Sống. Nhất là trà Phổ Nhĩ Sống mới.

Lý do là đất Tử Nê giúp làm dịu những vị “đắng” hay có ở bánh trà quá mới. Nhờ vậy mà giúp cho vị trà cân bằng hơn. Ít bị dội khi pha những bánh trà có hương vị đậm.

Đối với Trà Phổ Nhĩ Chín thì mình thích pha ấm tử sa đất Đoạn Nê. Vì loại đất này mình thấy giúp làm giảm mùi hôi của những bánh trà chín còn mới. Khiến cho nước trà đỡ ‘hôi’ và làm dạy mùi ‘ngậy béo’ đặc trưng của Phổ Nhĩ Chín hơn.

Trà Phổ Nhĩ: 5 Điều Cơ Bản Nên Biết 3

Tỷ lệ trà và nước thì tuỳ theo gu và khẩu vị mỗi người. Nếu bánh trà nhẹ vị lẫn trà khí thì mình có thể pha khoảng 7g trà cho 100ml nước. Bánh có trà khí vừa phải thì 5g trà cho 100ml nước. Còn những bánh trà khí ‘dữ dội’ thì 3g trà cho 100ml nước.

Thời gian hãm trà thì cũng tuỳ theo loại trà. Cứ mỗi loại trà thì mình lại canh thời gian khác nhau. Như trà Phổ Nhĩ Sống thì nước đầu thì nên hãm lâu một chút. Nước thứ hai có thể ngắn hơn hoặc bằng nước đầu. Nước ba thì nên bằng hoặc dài hơn nước đầu. Các nước sau thì nên cộng thêm thời gian vào.

VD như: 30s, 20s, 40s, 60s, 90s, 120s. Pha đến khi trà hết chất thì thôi. Trà Phổ Nhĩ tốt có thể pha được 6 đến 8 nước là chuyện hết sức bình thường.

 

Bạch Trà: Thông Tin & Đặt Mua

bạch trà, trà trắng

Bạch trà hay trà trắng là loại trà ít được biết đến nhiều như trà xanh hay trà đen. Thế nhưng theo nghiên cứu thì bạch trà có tiềm năng là loại trà có nhiều lợi ích cho sức khoẻ nhất.

BẠCH TRÀ (TRÀ TRẮNG) LÀ GÌ?

Đối với nhiều người thì bạch trà là loại trà khá mới mẻ. Thế nhưng bạch trà đã ra đời từ rất lâu. Loại trà này được tin là đã đã xuất hiện vào thời nhà Đường. Tức là vào khoảng thế kỷ thứ 6.

Ghi chép đầu tiên có nhắc đến trà trắng là cuốn Đại Quan Trà Luận của vua Tống Huy Tông. Ông là người cực kỳ yêu trà và có sự hiểu biết cao về các loại trà cũng như văn hoá thưởng trà.

Trong sách thì vị vua có nhắc tới một loại trà mà ông rất yêu thích đó là An Cát Bạch Trà. Huyện An Cát bây giờ thuộc thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

Cây trà ở An Cát có búp trà màu trắng như tuyết. Nước trà pha ra cũng có màu vàng nhạt. Thế nên mới được gọi là bạch trà. Mỗi cây trà cũng chỉ có một ít lá máu trắng như vậy nên trà rất quý hiếm.

Bạch Trà: Thông Tin & Đặt Mua 4

Thế nhưng đến bây giờ thì cũng ít ai biết đến An Cát. Mà ở một nơi khác thì bạch trà được đưa lên tầm cao mới. Nơi đó có tên là Phúc Đỉnh, một huyện của Phúc Kiến ngày nay.

Vào năm 1857 thì ở Phúc Đỉnh thì người ta phát hiện ra một giống trà đặc biệt. Búp non của cây trà này rất lớn và được bao phủ bởi một lớp lông trắng rất dày. Hương thì thơm ngạt ngào mùi hoa và vị thì ngọt ngào.

Không chỉ hơn về chất lượng. Mà cây trà ở Phúc Đỉnh còn hơn số lượng. Cây trà không chỉ cho ra được lượng búp nõn cao, mà còn dễ nhân giống để có thể trồng ở nhiều nơi ở Phúc Đỉnh cũng như một số huyện khác của Phúc Kiến.

Vào năm 1891 thì bạch trà bắt đầu được xuất khẩu đi nhiều nước. Và dần dần trở nên nổi tiếng. Theo một số liệu cũ thì Phúc Kiến là nơi sản xuất lượng bạch trà chiếm 90% lượng bạch trà của thế giới.

Con số này có thể đã thay đổi. Vì không chỉ Trung Quốc mà một số nước khác cũng có làm trà trắng. Như Việt Nam, Ấn Độ, Sri Lanka, Kenya hay Nepal cũng đều đang sản xuất bạch trà.

Bạch trà hay trà trắng có tên như vậy là do có cánh trà trắng muốt nhờ bao phủ bởi lớp lông trắng. Thế nhưng đối với hiện nay thì bạch trà không hẳn là phải có cánh trà màu trắng.

Hiện nay thì bạch trà là một nhóm trà được phân loại dựa trên cách làm hơn là màu lá trà. Cách chế biến bạch trà là cực kỳ đơn giản không bao gồm những công đoạn như “vò” và “sao” như khi làm các loại trà khác.

Chính vì vậy nên khi mua bạch trà thì bạn có thể bắt gặp loại thì cánh trà trắng muốt. Có loại thì lẫn giữa lá trà trắng và những lá xanh hoặc nâu lớn hơn. Có loại thì chẳng có một cánh trà trắng nào.

Đặt mua bạch trà Việt Nam

Hết hàng

CÁCH LÀM BẠCH TRÀ

Bạch trà là loại trà có công đoạn chế biến ngắn nhất. Thế nên lá bạch trà có hình thái gần như là lá trà tươi. Đồng thời trà trắng cũng giữ được phần lớn hương vị cũng như thành phần hoá học của lá trà tươi.

Công đoạn quan trọng nhất của việc làm bạch trà đó chính là làm héo. Làm héo là giai đoạn mà lá trà sẽ được xếp trên những chiếc nong bằng tre. Rồi phơi dưới ánh mặt trời.

bạch trà, trà trắng

Mục đích chính của giai đoạn làm héo đó chính là rút bớt lượng nước có trong lá trà. Ngoài ra thì các thành phần đạm và tinh bột thực vật sẽ phân hoá thành amino acid và đường. Tạo nên vị ngon của trà.

Một phần các amino acid này lại kết hợp với đường để tạo nên các hợp chất dễ bay hơi (volatile compounds). Tạo nên hương thơm cho cho trà.

Trong các loại trà thì bạch trà có giai đoạn làm héo dài nhất. Có thể kéo dài từ 24 cho đến 48 tiếng. Qua giai đoạn này thì bạch trà sẽ trở nên ngọt và thơm hơn.

Trong giai đoạn làm héo thì thành phần amino acid sẽ tăng gấp đôi sau 24 giờ. Chính vì vậy nên nên lá bạch trà thành phẩm có hương vị thơm ngon hơn cả lá trà tươi.

Giai đoạn làm héo dưới ánh mặt trời thường được thực hiện vào vụ xuân. Vào những ngày nắng gắt như mùa hè hay mưa nhiều thì bạch trà thường được làm héo trong nhà.

Đối với bạch trà thì vụ xuân luôn là vụ trà có hương vị tốt nhất. Theo sau đó là vụ thu. Và vụ trà hè thường có chất lượng kém nhất trong năm. Riêng mùa đông thì cây trà sẽ không được thu hoạch.

CÁC LOẠI BẠCH TRÀ

Bạch trà Việt Nam

Bạch trà đến từ Việt Nam thì có lẽ ít người Việt biết đến. Vì truyền thống của nước ta đó là uống trà xanh. Theo một số liệu từ năm 2007 thì 90% lượng trà được tiêu thụ ở Việt Nam là trà xanh.

Trà trắng của Việt Nam thường được làm từ lá của giống Đại Diệp Chủng (Assamica) và trà Shan Tuyết (Shan). Cả 2 giống đều có thân cao, lá trà to và sống lâu năm nên thường hay được gọi chung là trà cổ thụ.

suối giàng, trà shan tuyết, trà cổ thụ, yên bái
Suối Giàng – Yên Bái

Bạch trà làm từ giống trà Shan Tuyết thường có cánh trà dài và góc cạnh hơn. Hương vị thì có hơi hướng trà xanh nhưng vẫn ngọt ngào. Còn trà trắng làm từ giống Đại Diệp trà thường cánh nhỏ và tròn hơn. Hương ngọt đường nhiều hơn.

bạch trà, trà trắng

Ngoài ra thì gần đây còn xuất hiện thêm một loại trà làm từ Hậu Trục Trà (Crassicolumna). Một giống cây cũng thuộc họ Trà nhưng thành phần hoá học rất khác.

bạch trà, trà trắng

Loại trà này không có caffeine. Nhưng theo tài liệu thì cũng có chứa lượng chất chống oxy hoá khá lớn. Hương vị cũng ngọt trái cây giống như bạch trà thông thường.

Bạch trà làm từ Hậu Trục Trà thường được gọi trà trà móng rồng hay đuôi rồng. Riêng mình thì không rõ là tên này là chính thức hay do người bán tự đặt.

Bạch trà của Việt Nam cũng làm theo cách làm bạch trà truyền thống. Tuỳ theo giống và địa hình mà cũng sẽ có hương vị khác nhau. Cùng là trà trắng nhưng trà đến từ Suối Giàng (Yên Bái) hay Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) sẽ có sự khác biệt nhất định.

Bạn có thể tham khảo và mua các loại bạch trà của Việt Nam ở đây:

Xem bạch trà của Việt Nam →

Bạch trà Trung Quốc

Ở Trung Quốc có nhiều loại bạch trà đến từ nhiều nơi. Nhưng bao viết này chúng ta sẽ nói đến 3 loại bạch trà đến từ Phúc Kiến. Vùng trà nổi tiếng của nước này. Ba loại trà được nói đến sẽ là:

  • Bạch Hào Ngân Châm
  • Bạch Mẫu Đơn
  • Thọ Mi

Bạch Hào Ngân Châm có hình dáng như tên gọi của mình. Lá trà chỉ bao gồm búp, nhỏ và dài như cây đinh bằng bạc (ngân châm). Và được bao phủ bởi một lớp lông trắng dày (bạch hào).

bạch trà, trà trắng, bạch hào ngân châm

Bạch Mẫu Đơn thì bao gồm phần búp và bao gồm một hoặc hai lá kế tiếp. Bạch Mẫu Đơn có tên như vậy là do có mùi hương hoa giống như hoa Mẫu Đơn.

bạch trà, trà trắng, bạch mẫu đơn

Còn Thọ Mi thì chỉ bao gồm phần lá trưởng thành chứ không có búp. Lá trà Thọ Mi thường được thu hoạch vào những đợt sau của vụ trà. Sau khi hai loại trà trên được thu hoạch.

Bạch Trà: Thông Tin & Đặt Mua 5

Nếu xét về phẩm lá trà thì có thể nói Bạch Hào Ngân Châm là cao nhất. Và thấp nhất là Thọ Mi. Thế nhưng chất lượng trà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.

Bạch trà Thọ Mi khi xưa thường được bán cho nông dân vì nguyên liệu có chất lượng thấp. Thế nhưng loại trà này ngày càng được ưa chuộng nhờ vào có hương vị đặc biệt.

Loại trà này được làm héo bằng cách chất đống trong thời gian dài. Thế nên bạch trà Thọ Mi có độ lên men cao hơn bạch trà bình thường. Có thể lên đến 5-10%.

Nhờ vậy mà trà Thọ Mi có hương vi hơi hướng trà Ô Long. Nên những người thích uống trà Ô Long cũng sẽ dễ thích luôn hương vị của loại bạch trà này.

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến giá trà đó là vùng trà. Ở Phúc Kiến thì có Phúc Đỉnh và Chính Hoà là nổi tiếng và lâu đời nhất. Cùng một loại trà nhưng uống hai nơi đều khác nhau.

Như cùng là Bạch Hào Ngân Châm thì ở Phúc Đỉnh được làm từ giống Phúc Đỉnh Đại Bạch của riêng họ. Họ làm trà theo cách được biết đến rộng rãi. Bao gồm 3 bước: làm héo ngoài trời, làm héo trong nhà và sấy khô.

Còn Bạch Hào Ngân Châm từ Chính Hoà được làm từ một giống trà riêng. Có tên là Chính Hoà Đại Bạch. Người làm trà ở đây cũng có cách làm trà ngược lại người hàng xóm. Đó là: làm héo trong nhà, làm héo ngoài trời và sấy khô.

Thế nên cùng một loại trà Bạch Hào Ngân Châm nhưng lại có hương vị khác nhau. Trà của Phúc Đỉnh thì có cọng trắng, thơm mùi hoa hơn. Còn trà của Chính Hoà có cọng xám, nước mượt hơn do thời gian làm héo dài hơn (lên đến 3 ngày).

Và yếu tố nữa ảnh hưởng đến giá trà đó độ tuổi của bạch trà. Bạch trà có thể trữ trong thời gian dài. Trà càng lâu năm thì lại có giá càng đắt đỏ. Những bánh trà Thọ Mi hay Bạch Mẫu Đơn lâu năm được bán với giá cao ngất ngưởng.

Như Bạch Mẫu Đơn có thể xem là loại trà có sự phân hạng phức tạp nhất. Loại trà này còn được phân loại theo giống trà. Từ giống Đại Bạch. Cho đến Thuỷ Tiên rồi Tiểu Bạch (giống lá nhỏ).

Do nổi tiếng nên ở Việt Nam thì những loại trà này bị làm giả và bán với giá rẻ ở rất nhiều nơi. Trà thật thường giá sẽ cao. Thế nên bạn cần tìm những tiệm trà thật uy tín để tìm mua.

Bạch trà các nước

Hiện nay có khá nhiều nước làm được bạch trà. Như vùng Darjeeling của Ấn Độ thì họ làm bạch trà cũng từ giống trà Đại Diệp Chủng (Assamica). Hình thái cánh trà cũng như hương vị rất giống bạch trà Việt Nam.

bạch trà, trà trắng
Bạch trà Nepal

Nepal thì có vùng trà Ilam cũng rất nổi tiếng. Bạch trà Nepal thường có lá nhỏ. Do giống trà họ dùng là trà lá nhỏ (Sinensis) chuyên để làm trà xanh và trà đen. Do có thời gian làm héo dài nên bạch trà của Nepal có màu ngả vàng và nước cũng hơi có màu cam nhạt.

TÁC DỤNG CỦA BẠCH TRÀ

Ở Phúc Kiến khi xưa thì lá trà trà còn được dùng để trị một số loại bệnh. Do không trải qua nhiều giai đoạn chế biến trà phức tạp. Thế nên lá bạch trà còn giữ được phần lớn dưỡng chất như lá trà tươi.

Trong tất cả các loại trà thì bạch trà và trà xanh có chứa nhiều polyphenol nhất. Một thành phần mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ của lá trà.

Thậm chí bạch trà còn có chứa lượng flavone cao hơn hẳn tất cả các loại trà khác. Flavone là một thành phần có hoạt động chống oxy hoá rất mạnh.

Tuy nhiên, có một điều đáng tiếc là mặc dù có chứa nhiều thành phần rất tốt cho sức khoẻ. Thế nhưng bạch trà vẫn là loại trà không được biết đến nhiều. Thế nên nghiên cứu về lợi ích của loại trà này vẫn còn hạn chế.

Tác dụng của bạch trà bao gồm:

  • Giảm cân
  • Tốt cho da
  • Tăng cường chức năng não
  • Tốt cho tim mạch
  • Ngừa ung thư
  • Giảm tiểu đường
  • Ngừa vi khuẩn

Giảm cân

Trong các loại trà thì trà xanh được xem là loại trà giúp giảm cân và ngừa béo phì tốt nhất. Nhờ vào việc loại trà này có chứa một lượng thành phần catechin rất lớn.

Bạch trà cũng có chứa lượng catechin nhiều tương tự nên có thể khả năng giảm cân của loại trà cũng không kém gì so với trà xanh.

Một nghiên cứu vào năm 2009 cho thấy bạch trà có 2 tác dụng giảm cân. Đó là làm hạn chế quá trình tạo mô mỡ (adipogenesis) và thúc đẩy hoạt động phân giải mỡ (lipolysis).

Nói một cách đơn giản thì khi uống bạch trà thì bạn sẽ hạn chế được quá trình hình thành mỡ. Đồng thời giúp giảm lượng mỡ sẵn có. Qua đó giúp giảm cân.

Tốt cho da

Nếu bạn là người hay dùng mỹ phẩm thì cũng đã biết là nhiều thương hiệu bắt đầu thêm nhiều chiết xuất thảo mộc vào sản phẩm của họ.Và một thành phần được chú ý gần đây đó là chiết xuất bạch trà.

Bạch Trà: Thông Tin & Đặt Mua 6
Kem dưỡng chống nắng có chứa chiết xuất trà trắng của hãng danh tiếng Origins.

Không phải tự nhiên mà bạch trà lại xuất hiện trong các sản phẩm mỹ phẩm. Một nghiên cứu của Anh đã tìm hiểu tác dụng của 21 loại thảo mộc cho da. Và bạch trà đứng đầu tất cả.

Các nhà khoa học tập trung vào 2 thành phần xuất hiện trên da đó là elastincollagen. Elastin giúp giữ độ đàn hồi của da và hỗ trợ việc hồi phục vết thương.

Còn collagen thì quá nổi tiếng rồi. Đây là hệ thống giúp da bạn căng (ít nếp nhăn) và cũng hỗ trợ độ đàn hồi của da. Thiếu collagen và elastin sẽ khiến da bạn chảy xệ và nhiều nếp nhăn.

Ở da có những loại enzyme giúp phân huỷ elastin và collagen. Bạch trà giúp hạn chế quá trình phân huỷ này. Qua đó giúp bạn hạn chế các vấn đề lạo hoá da và căng tràn hơn.

Bạn có thể mua bạch trà về uống. Sau đó giã nhỏ bã trà rồi đắp lên mặt như kiểu mặt nạ. Qua đó vừa chăm sóc da lại vừa tốt cho sức khoẻ nhờ việc uống trà.

Tăng cường chức năng não

Một trong những lý do mà nhiều người nghiện uống trà đó là khả năng giúp tỉnh táo và tạo cảm giác hưng phấn. Nhờ vậy nên bạn sẽ làm việc cũng như học tập hiệu quả hơn.

Lý do là trong trà có chứa thành phần caffeine và l-theanine. Caffeine có nhiều trong cà phê và trà nên sẽ giúp bạn tỉnh táo và tập trung ngay sau khi uống những thức uống này.

Trong các loại trà thì bạch trà có chứa lượng caffeine thuộc hàng thấp nhất. Thấp hơn trà xanh và thấp hơn nhiều so với trà đen. Thế nên bạch trà khi uống vào ban đêm có thể đỡ gây mất ngủ hơn.

L-theanine thì tạo nên cảm giác thư giãn và hưng phấn nhẹ. Đối với người uống trà thì họ còn gọi cảm giác này là “trà khí”. Trà càng có chất lượng tốt thì “trà khí” càng nhiều.

Trong lá trà thì l-theanine có thể chiếm tới 50% lượng amino acid. Và đối với lá bạch trà thì phần lông trắng bao bọc búp trà có chứa nhiều amino acid hơn hẳn cả lá trà.

Chính vì vậy nên nhiều người uống Bạch Trà Cổ Thụ (Tước Thiệt) của Danh Trà cho mình hay là họ cảm nhận được “trà khí” rất dữ dội. Vì loại trà này 100% là búp trà phủ lông trắng mà thôi!

Tốt cho tim mạch

Một trong những tác dụng được nghiên cứu nhiều nhất của việc uống trà xanh đó là khả năng bảo vệ tim mạch. Vì trong trà có chứa nhiều các thành phần chống oxy hoá.

Những loại thực phẩm có nhiều thành phần chống oxy hoá và có nhiều lợi ích cho sức khoẻ sẽ được gọi là “siêu thực phẩm”. Và trà xanh là một trong số những siêu thực phẩm tốt nhất.

Hiện tại thì chưa có nghiên cứu nào tập trung vào những tác dụng cho tim mạch của bạch trà. Thế nhưng với việc bạch trà có hàm lượng chất chống oxy hoá catechinpolyphenol cao tương tự như trà xanh.

Thì có nhiều khả năng là bạch trà cũng có tác dụng bảo vệ tim mạch giống như trà xanh.

Bạch Trà: Thông Tin & Đặt Mua 7
Hong Kong là một trong những nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới. Và uống trà cùng với ăn nhiều đồ hấp là thói quen của người dân nơi đây.

Ngừa ung thư

Theo thống kê của Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO thì Việt Nam có đến 115.000 người chết vì ung thư mỗi năm. Và con số này đang tăng dần theo từng năm.

Cũng theo khuyến cáo của họ thì đến 50% trong số này có thể phòng ngừa bằng một số biện pháp rất dễ áp dụng. Bao gồm giảm hút thuốc, uống rượu bia, duy trì cân nặng hợp lý, tập thể dục thường xuyên và trị các bệnh truyền nhiễm đang gặp phải.

Ngoài ra thì bạn cần có một chế độ ăn uống lành mạnh với đầy đủ dưỡng chất. Bạn cũng có thể uống thêm trà như một phần của chế độ dinh dưỡng này.

Về cơ bản thì trà không phải là thần dược giúp ngừa ung thư. Một số nghiên cứu cho thấy uống trà chỉ giúp góp phần giúp giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư mà thôi.

Đối với bạch trà thì đã có nghiên cứu cho thấy loại trà này có thể có tiềm năng trong việc hỗ trợ điều trị ung thư phổi. Một nghiên cứu khác cho thấy tác dụng của chiết xuất bạch trà trong việc bảo vệ da khỏi tia UV và giúp ngừa ung thư da.

Giảm tiểu đường

Như đã nêu ở trên thì uống bạch trà thường xuyên sẽ có tác dụng giảm cân. Giúp bạn có một cân nặng hợp lý. Qua đó giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.

Một nghiên cứu trên động vật cho thấy bạch trà có khả năng làm giảm các triệu chứng liên quan đến bệnh tiểu đường. Mặc dù vậy thì cần có thêm nghiên cứu lâm sàng để làm rõ hơn khả năng này của trà trắng.

Theo thống kê của IDF Diabetes Atlas thì nước ta có khoảng gần 3.8 triệu người trưởng thành bị mắc bệnh tiểu đường. Chiếm khoảng 5.7% số người trưởng thành cả nước.

CÁCH PHA BẠCH TRÀ

Trong số các loại trà thì bạch trà cũng có thể nói là loại trà dễ pha nhất. Bạn rất khó để pha loại trà này dở được. Pha kiểu gì thì mùi thơm của hoa hay ngọt trái cây vẫn sẽ luôn xuất hiện.

bạch trà, trà trắng

Để pha bạch trà thì bạn chỉ cần để ý một chút ở nhiệt độ. Bạch trà tốt nhất là nên được pha ở nhiệt độ khoảng 90 – 95 độ C. Khi đun nước vừa sôi thì bạn để yên bình đun như vậy khoảng 3 phút. Lúc này nhiệt độ nước giảm đi một chút thì pha trà sẽ tốt hơn.

Do không được vò nên lớp biểu bì của lá trà sẽ hơn dày một chút. Nên bạn cũng cần nên hãm trà lâu một chút. Như trà xanh chỉ cần hãm 1-3 phút là dùng được rồi. Còn bạch trà thì phải ít nhất là từ 3-5 phút.

TRỮ BẠCH TRÀ

Một trong những đặc tính của bạch trà là có thể trữ lâu được. Thời gian trữ có thể lên đến 10 hay 20 năm. Qua thời gian thì lá bạch trà chuyển hoá dần dần.

Khi trữ lâu thì hương hoa dần dần mất đi. Thay vào đó là vị mật ngọt của trái cây khô xuất hiện nhiều hơn. Nước trà cũng chuyển từ màu vàng nhạt sang màu nâu đỏ. Nước trà cũng mượt và ngọt hơn.

bạch trà, trà trắng
Một bánh bạch trà được trữ qua vài năm.

Do không bị ‘diệt men’ nên trong lá bạch trà còn rất nhiều thành phần enzyme. Những enzyme này đóng vai trò là chất xúc tác giúp oxy trong không khí chuyển hoá các thành phần hoá học của lá trà.

Do lá trà đã khô nên quá trình này sẽ diễn ra chậm và kéo dài rất lâu. Bạch trà khi trữ tầm 5 năm là đạt độ chín rất tốt rồi. Uống vào sẽ có hương vị giữa bạch trà và hồng trà.

Ba cây trà cổ thụ nhiều tuổi nhất thế giới

Ba cây trà cổ thụ nhiều tuổi nhất thế giới 8

Nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng nguồn gốc trà của thế giới nằm ở khu vực bao gồm tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), tây bắc Việt Nam, bắc Lào và bắc Myanmar. Cách mà họ sử dụng để chứng minh cho kết luận của mình đó là đo tuổi của những cây trà cổ thụ ở khu vực này. Và kết quả là nơi đây có rất nhiều cây trà trên 100 năm tuổi, nổi bật trong số này đó là 3 cây trà có tuổi đời thấp nhất là 800 năm tuổi và cao nhất là 1.800 năm tuổi.

Trà cổ thụ là gì?

Trà cổ thụ hay trà shan tuyết cổ thụ là cách gọi của người Việt Nam dành cho một chi của cây trà có tên là khoa học là Camellia taliensis. Ở Vân Nam thì người ta hay gọi những cây trà này là dã trà hay bổn sơn trà, nhưng để cho dễ hiểu thì bài viết này sẽ dùng cách gọi của người Việt đó là “trà cổ thụ”. Cây trà cổ thụ thường có chiều cao khoảng 2-10m và thường mọc ở vùng núi có độ cao khoảng 1.300 – 2.7000m so với mặt nước biển. Ngoài kích thước lớn hơn thì trà cổ thụ khác với trà vườn (Camellia sinensis) ở chỗ là quả của trà cổ thụ có 5 múi (dạng múi như múi cau) còn quả của trà vườn chỉ có 3 múi mà thôi. Lá của cây trà đã được hái làm thành trà từ khoảng 1.300 năm trước, và được thuần hoá vào khoảng vài trăm năm đổ lại. Trà cổ thụ có thể được chế biến thành nhiều loại trà khác nhau, nhưng nổi tiếng nhất chính là trà Phổ Nhĩ – một dạng trà lên men và thường được đóng thành bánh. Cây trà cổ thụ thường sống khoảng vài trăm năm tuổi nhưng có một số cây có thể sống hơn 500 năm và lên đến gần 2 thế kỷ.

Và đây là 3 cây trà nhiều tuổi nhất thế giới.

Ba Đạt

Ba Đạt là tên của cây trà cổ thụ nhiều tuổi nhất thế giới với độ tuổi được ước tính là đã hơn 1.800 năm tuổi. Cây trà này còn được gọi là “Mãnh Hải Trà Vương” vì nó mọc ở độ cao 1.900m ở huyện Mãnh Hải – là một huyện thuộc khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) – cũng là vùng có nhiều cây trà cổ thụ, và Ba Đạt là nhiều tuổi nhất nên được ví là “vua trà”. Nổi tiếng trong vùng từ rất lâu nhưng phải đến năm 1961 thì Ba Đạt mới chính thức được nghiên cứu, và các nhà khoa học gia của Trung Quốc xác nhận là cây trà cao 34m và đã hơn 1.800 năm tuổi. Đây là một trong những nỗ lực của họ để phản bác lại kết luận của khoa học gia người Anh là nguồn gốc của nhóm cây trà lá to là nằm ở Ấn Độ. Sau khi Trung Quốc công bố Ba Đạt là cây trà nhiều tuổi nhất thế giới thì có rất nhiều chuyên gia và những người yêu trà từ khắp nơi trên thế giới đổ về để được chiêm ngưỡng cây trà cổ thụ này. Tuy nhiên, Ba Đạt đã bị đốn hạ vào cuối năm 2012. Theo nhiều chuyên gia kết luận thì cây trà đã đến cuối vòng đời của mình, thân và cành đã mụt rỗng, cộng với sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt nên cuối cùng đành phải bị đốn hạ.

trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Cây trà ba Đạt khi còn sống. Ảnh: yunnan.cn
trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Ba Đạt bị đốn hạ vào năm 2012. Ảnh: yunnan.cn

Cây trà cổ thụ Bang Uy

Bang Uy là một làng nhỏ vùng cao thuộc huyện Lan Thương, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Ở đây nổi tiếng với sự hiện diện của một cây trà cổ thụ trên 1.000 năm tuổi được đặt dưới sự bảo vệ của chính phủ. Thậm chí là vào năm 1997 thì hình ảnh của cây trà cổ thụ Bang Uy còn được xuất hiện trên bộ tem quốc gia ban hành bởi Bộ Truyền Thông và Thông Tin của Trung Quốc.

trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Ảnh: tieba.baidu.com

Lão trà vương núi Nan Noạ

Núi Nan Noạ là ngọn núi nằm gần thành phố Lí Xử, thủ đô của khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp của tỉnh Vân Nam. Nơi đây cũng chính là nơi mà hợp tác xã trà đầu tiên của tỉnh Vân Nam ra đời vào năm 1938. Nhưng đây không phải là điều duy nhất khiến cho Nan Noạ được chú ý mà chính rừng trà cổ thụ nơi đây mà người dân gọi là “lão trà vương”. Vào năm 1952, một nhà thực vật học người Nga (Liên Xô cũ) đã nghiên cứu và phát hiện ra rừng trà ở Nan Noạ có rất nhiều cây trà khoảng 800 năm tuổi, một số cây còn hơn 1.000 năm tuổi. Cây trà cổ thụ sống đến 800 năm tuổi là khá hiếm mà Nan Noạ lại có nhiều cây như vậy nên tin này mới gây chấn động vào thời gian này. Tuy nhiên vào thập niên 80s thì những cây “lão trà vương” bắt đầu chết dần. Do không dự liệu được từ trước nên chính phủ và các nhà nghiên cứu cũng đành phải bất lực nhìn những cây trà cổ thụ dần chết đi. Rất may là vào năm 2012 thì những chuyên gia trà đến từ Học Viện Khoa Học Nông Nghiệp Vân Nam đã khám phá ra rằng còn một cây “lão trà vương” vẫn còn tồn tại ở một gia đình trong vùng, và khi họ tìm hiểu thì cây trà này được trồng trong khoảng triều đại nhà Tống và đã hơn 800 năm tuổi. Rút kinh nghiệm thì chính quyền địa phương đã ban hành luật để bảo vệ cây trà và chỉ người làm trà được chọn mới được hái và chế biến trà từ cây trà này.

trà cổ thụ, trà shan tuyết cổ thụ, trà phổ nhĩ,
Ảnh: puer.caiyn.net

Tiến Vũ