| Loại bao bì | Hũ sứ 25g, Túi 30g |
|---|
Tsuyuhikari Matcha 30g
Tsuyuhikari là dòng matcha được chế biến từ giống trà Tsuyuhikari của vùng trà Ōmi (tỉnh Shiga ngày nay). Vùng trà Ōmi là một trong những cái nôi lâu đời nhất của trà Nhật Bản, nằm sát bên vùng Uji trứ danh của Kyoto. Từ xa xưa, Ōmi từng được xem là nơi đầu tiên trồng trà ở Nhật. Và từng là nguồn cung chính cho các thiền viện, trà quán ở Kyoto.
Tsuyuhikari là giống trà được lai tạo từ Asatsuyu và Shizu7132. Vừa thừa hưởng độ ngậy béo và giàu umami từ Asatsuyu. Lại vừa mang theo hương hoa và chút thảo mộc tươi mát từ Shizu7132. Chính sự kết hợp này khiến Tsuyuhikari thường được chọn để làm matcha “giống đơn”, nhằm phô bày trọn vẹn sự phức hợp và cá tính riêng biệt.
- Vùng trà Tsuchiyama (Omi)
- Trà hái đầu vụ xuân
- Nghiền cối đá
Hương vị: măng tây hấp, hạt dẻ cười, kem bơ, mứt vỏ bưởi, lá trà xanh tươi.
Giống trà Tsuyuhikari
Ở Nhật thì họ có một số giống trà được xem là “quốc bảo”, và một trong số đó là Asatsuyu. Vì Asatsuyu đạt mọi yêu cầu về hương vị của một giống trà ngon: từ độ ngọt béo, độ umami cho đến hương thơm đều vượt trội. Thế nhưng giống trà này lại mỏng manh và yếu ớt, chỉ cần vài trận mưa dài, một đợt sâu bệnh, cũng đủ làm người nông dân mất trắng vụ trà. Thế nên Asatsuyu rất khó phổ biến và trồng với quy mô lớn.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu trà quốc gia Nhật Bản đã quyết tâm tạo ra những giống trà mới mang nét ưu việt của Asatsuyu nhưng bền bỉ hơn trước thời tiết và sâu bệnh. Vào năm 1990, giống trà Saemidori ra đời, được lai tạo từ “mẹ” là Asatsuyu và “bố” là Yabukita. Saemidori thừa hưởng gần như mọi ưu điểm của Asatsuyu: ngọt thơm và umami cao, đồng thời có năng suất tốt hơn và sức chống chịu khá hơn từ Yabukita.
Thế nhưng thì Saemidori vẫn giống mẹ quá nhiều, nên khả năng chịu thời tiết khắc nghiệt và kháng bệnh vẫn chưa thật sự cao. Mãi đến năm 2006, “người em” Tsuyuhikari ra đời, đây là một giống trà mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Tsuyuhikari vẫn có “mẹ” là Asatsuyu, nhưng “bố” lần này là Shizu7132. Đây là một giống trà thuộc nhóm Zairai (bản địa), giống này thường được trồng từ hạt và tự thích nghi rất tốt với môi trường. Nhờ vậy, Shizu7132 có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và kháng bệnh cao.
Các hạt phấn của Shizu7132 được các nhà nghiên cứu thụ phấn cho Asatsuyu. Hàng nghìn cây con được ươm mầm và thử thách khắc nghiệt: cố tình cho tiếp xúc với bệnh tật, thời tiết bất lợi. Hàng nghìn cây bị bệnh và chết, nhưng sự hy sinh đó cần thiết để tìm ra một giống trà không phụ thuộc nhiều vào hoá chất nông nghiệp để phòng bệnh, trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng đang thách thức ngành trà. Và rồi trong số rất ít cây con kiên cường sống sót ấy, Tsuyuhikari đã ra đời.
Gần giống với “người anh” Saemidori, Tsuyuhikari cũng có bộ hương vị nồng nàn với umami khá cao và ngậy béo như hạt. Nhưng đồng thời lại có thêm chất tươi xanh của hoa cỏ và vị khoáng tự nhiên. Đây chính là khí chất mạnh mẽ từ giống trà bản địa. Khi kết hợp với thổ nhưỡng vùng trà Ōmi, khí chất ấy càng trở nên rõ ràng hơn.
Vùng trà Omi
Câu chuyện của Ōmi bắt đầu từ một sự thật lịch sử ít người biết: đó là vùng đất Ōmi mới là nơi trồng trà đầu tiên ở Nhật, chứ không phải Uji.
Vào khoảng thế kỷ thứ 8 thì Trung Quốc và Nhật Bản đang có mối quan hệ tốt đẹp. Họ không chỉ giao thương, mà còn chịu khó trao đổi văn hoá. Các nhà sư người Nhật còn sang Trung Quốc để học về Phật pháp và mang kinh sách về.
Vào năm 805, một nhà sư tên là Saichō đã trở về từ Trung Quốc. Ông không chỉ mang kinh Phật về nước, mà còn mang theo một “báu vật”: những hạt giống trà. Ông đã gieo những hạt giống này tại ngôi đền Hiyoshi dưới chân núi Hiei thuộc địa phận Ōmi vào năm 805. Những hạt giống trà này đã nảy mầm trong khuôn viên ngôi đền, và trở thành những bụi trà được trồng đầu tiên ở Nhật. Những bụi trà này ban đầu chỉ được các nhà sư sử dụng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi, thì trà trở thành cây trồng quen thuộc của nông nhân trong vùng.
Theo Nihon Koki thì vào mùa hè năm 815, thì Thiên hoàng Saga cùng thái tử và một số tùy tùng đã đến Ōmi để xem biểu diễn ca vũ truyền thống trên hồ Biwa. Trên đường đi, nhà vua ghé một ngôi chùa để lễ Phật. Và tại chùa thì ngài được một nhà sư dâng một chén trà. Quá ấn tượng nên Thiên hoàng đã ra lệnh mở rộng canh tác trà ở Ōmi (Shiga ngày nay), Tamba (Kyoto và Hyōgo ngày nay), cũng như những khu vực khác.
Trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 9 trở đi, nhờ ở giáp với kinh đô Kyoto, thì trà Ōmi trở thành thức uống của giới quý tộc và tăng lữ. Uống trà là một biểu tượng của sự thanh tao và địa vị. Đến thời Edo, Ōmi là một trong “tam đại trà sản” của Nhật Bản, cùng với Uji và Mie, là nguồn cung chủ lực cho các thiền viện và trà quán ở Kyoto.
Nhưng rồi thì số phận của Ōmi dần chìm vào quên lãng. Khi mà Uji với lợi thế gắn liền với trà đạo và các bậc thầy trà, đã xây dựng được một “câu chuyện” văn hóa đầy sức hút. Cùng với khu vực trồng trà mở rộng rất lớn nên Uji đã có thể tự cung tự cấp. Trong khi đó, Ōmi vẫn chỉ là một vùng sản xuất trà âm thầm, thiếu đi một tiếng nói để kể về lịch sử dài của mình. Khi các vùng khác như Shizuoka bùng nổ với mô hình canh tác lẫn sản xuất công nghiệp. Thì Ōmi vẫn bám trụ với lối canh tác nhỏ lẻ, truyền thống, và dần bị bỏ lại phía sau.
Điều kiện tự nhiên ở Ōmi vô cùng thuận lợi để trồng trà: sáng sớm nhiều sương mù, giúp lá trà giàu amino acid và ngọt hậu. Hiện tượng này được gọi là “vân vụ”, được xem là điều kiện lý tưởng cho nơi trồng trà. Vì lớp sương mù này tạo nên một lóp che phủ ánh nắng tự nhiên. Thổ nhưỡng ở nơi đây là dạng đất đồi đá cổ giàu khoáng chất, tạo nên nét khoáng vị rất riêng. Chính vì vậy, trà Ōmi thường được mô tả là thanh khiết và nhẹ nhàng. Umami vừa phải, phảng phất dư vị hoa cỏ và khoáng chất. Khác biệt với vị “umami bùng nổ” như trà của Uji.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.