1. Lục trà lài là gì?
Lục trà lài (hay trà nhài) là loại trà được tạo nên từ sự kết hợp giữa lục trà (hay còn có tên gọi khác là “trà xanh”) và hoa lài tươi theo phương pháp ướp hương thủ công truyền thống. Thức uống này sở hữu hương thơm thanh khiết của hoa tự nhiên quyện cùng vị chát dịu, hậu vị ngọt sâu đặc trưng của lá trà Camellia sinensis.
Lục trà lài được xếp vào nhóm ‘trà tái chế’. Tái chế ở đây không phải là sử dụng trà cũ hay trà bỏ đi để làm thành trà lài. Tái chế có ý nghĩa là “chế biến thêm một lần nữa”. Tức là cách chế biến trà dựa trên một nền tảng trà đã thành phẩm.
Nền tảng trà thành phẩm (trà nền) được sử dụng thường là trà xanh sấy khô (lục trà). Rồi áp dụng kỹ thuật ủ hương (ướp trà với hoa) để trà hấp thụ hương tự nhiên của hoa lài tươi. Để rồi tạo nên một hương vị có thức uống độc đáo mang hương vị đan xen của trà lẫn hoa, hay người xưa có câu là “trà dẫn hương hoa, hoa tăng vị trà”.
Tuy nhiên, hiện nay thì phần lớn lục trà lài có trên thị trường là dòng ướp bằng hương liệu nhân tạo. Loại này có giá thành hợp lý, nồng độ mùi thơm lại hợp với pha chế. Còn dòng lục trà lài ướp hương hoa thật sẽ ít gặp hơn. Đồng thời giá thành cũng rất cao, và hợp với việc thưởng trà hơn là pha chế.
Các loại trà ướp hương như lục trà lài thường sẽ là dòng trà bán chạy nhất trong các nhóm trà. Đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam. Lý do đó là thơm và rẻ. Ở Nhật thì họ cũng có một một loại trà “ướp hương” cũng bán chạy hàng đầu, đó là “trà gạo rang”.
Tùy thuộc vào từng địa phương, tên gọi có thể thay đổi giữa “lài” (phổ biến ở miền Nam) và “nhài” (phổ biến ở miền Bắc). Sự khác biệt này hoàn toàn thuộc về ngôn ngữ vùng miền, không làm thay đổi chất lượng trà hay nguyên lý ướp hoa gốc.
2. Nguồn gốc & lịch sử trà ướp hoa lài
Lục trà lài phải có lịch sử kế thừa và phát triển xuyên suốt hơn 1000 năm.
2.1. Sự du nhập của hoa lài
Hoa lài (Jasminum sambac) không phải là cây bản địa của Việt Nam. Mà có nguồn gốc từ Nam Á, có thể là từ Ấn Độ. Cây hoa nhài mà được du nhập đến một số quốc gia Đông Nam Á qua Con đường tơ lụa trên biển vào khoảng thế kỷ thứ 3. Nên có thể cây hoa lài đã xuất hiện ở nước ta vào khoảng thời gian này. Vì Việt Nam ta, hay Giao Chỉ khi xưa, là một trong những điểm đến quan trọng của tuyến đường giao thương hàng hải này.
Hoa lài là một loài hoa cao quý và đã từng xuất hiện trong thơ ca từ thời nhà Trần – Lê (từ thế kỷ 14). Thậm chí là thời vua Minh Mạng thì hoa lài còn được chọn là một trong những sản vật của đất nước. Và được khắc hình lên Cửu Đỉnh.
2.2. Nghệ thuật ướp hoa lài
Nghệ thuật ướp trà với hoa lài được cho là ra đời vào thời nhà Tống (Trung Quốc). Đặc biệt là vùng Phúc Châu, từ xưa đến nay thì khu vực này luôn được xem là thủ phủ của trà lài.
Tài liệu xưa từ thời nhà Tống đã có mô tả quy trình ướp lài: Hái những bông hoa đang hé nửa, chưa nở hết để giữ trọn vẹn hương khí, tùy lượng trà mà phối trộn. Tỷ lệ phối trộn “ba phần trà, một phần hoa” đã được thiết lập từ thời kỳ này. Và vẫn được áp dụng cho đến tận ngày nay.
Đến thời nhà Thanh (Trung Quốc) thì trà lài bước vào thời kỳ hưng thịnh bậc nhất. Trà hoa lài Phúc Châu trở thành trà cống phẩm vào khoảng giữa thế kỷ 19. Từ Hi Thái Hậu là người có sở thích đặc biệt với loài hoa này. Thậm chí bà còn quy định không ai được được cài hoa nhài lên tóc.
3. Nghệ thuật ướp lục trà lài
Kỹ thuật ướp trà lài không đơn giản là trộn trà với hoa. Triết lý của việc này chính là “trà dẫn hương hoa, hoa tăng vị trà”. Có nghĩa là dùng trà làm một nơi trú ngụ cho hương hoa, còn hương hoa sẽ đóng vài trò tô điểm cho vị trà.
Quá trình này là sự kết hợp giữa cơ chế vật lý rất đơn giản, đó là lá trà khô hấp thụ tinh dầu và thành phần hóa học tạo hương. Qua đó tạo nên sản phẩm đặc biệt, đó là những cánh trà nhìn rất đỗi bình thường, không thấy hoa ở đâu. Nhưng ngửi thôi mà cứ ngỡ đang cầm trên tay cả nắm hoa mới nở.
Quy trình chế biến lục trà lài bao gồm những bước sau:
3.1. Sơ chế trà nền
Đây là các bước xử lý lục trà hay trà xanh thành phẩm trước khi ướp. Trà được sàng sảy để loại bỏ tấm cám, nhặt bỏ cọng và lá già. Đây là những thành phần trà ngậm hương kém. Công đoạn này cũng giúp tách rời và làm tơi trà để dễ hấp thụ hương hoa hơn.
3.2. Xử lý hoa tươi
Hoa lài phải hái vào thời điểm thích hợp, thường là 2-4 giờ chiều. Chỉ chọn những bông mới nở hơi hé. Vì khi đến tối thì hoa mới bắt đầu nở đều và bắt đầu tỏa hương mạnh nhất.
3.3. Ủ hương
Đây là công đoạn quan trọng nhất. Trà và hoa được trộn đều theo một tỷ lệ nhất định. Quy chuẩn thường là 1 phần hoa với 3-4 phần trà. Tức là một kg trà sẽ ướp với khoảng 3-4 lạng hoa (cho mỗi lần ủ) mà thôi.
Vì lá trà có một giới hạn “ngậm hương” nhất định cho mỗi lần ủ. Nên chỉ dùng một lượng hoa vừa đủ cho mỗi lần, dùng thật nhiều hoa cũng không khiến trà thơm hơn mà còn có nguy cơ bị úng.
Muốn thơm hơn thì ủ nhiều lần. Loại ngon thường sẽ ướp khoảng 3-5 lần. Tức là 1kg trà sẽ tốn khoảng 1 đến 1.5kg hoa. Loại hảo hạng có thể được ướp đến 10 lần. Hương hoa có thể nói là ngấm tới tận “xương tuỷ”.
Một số bên họ thường hay phóng đại lượng hoa và số lần ướp cho trà của họ. Thế nhưng mọi loại trà đều có một ngưỡng ướp nhất định. Khó mà uớp thơm hơn được nữa.
3.4. Thông hoa
Trong quá trình ủ thì nhiệt độ và độ ẩm của đống trà tăng lên. Người làm trà sẽ đảo trộn để giải phóng nhiệt và hơi ẩm. Việc này tránh làm trà bị hôi.
Đồng thời cung cấp oxy cho hoa tiếp tục tỏa hương. Mặc dù đã hái lìa khỏi cành, nhưng hoa lài cũng như các loài hoa khác là vẫn đang còn “sống”. Nên hoa cần oxy để tiếp tục tổng hợp và toả hương cho đến lúc kiệt quệ.
3.5. Tách hoa
Sau khi hoa đã nhả hết hương và hoàn toàn “kiệt sức” và khô đi. Người làm trà sẽ sàng tách hoa đã ủ ra khỏi trà. Phần hoa được tách ra này thường sẽ được tận dụng bằng cách sấy khô. Sau đó hoa khô được bán để làm “trang trí” cho các loại trà lài ướp hương liệu.
Thông thường thì trà lài thật sự cao cấp sẽ không thấy cánh hoa lẫn cùng với trà. Vì cánh hoa khô thực chất chỉ mang tính trang trí, thường hay thấy ở trà lài tự nhiên loại khá hoặc trà ướp hương liệu mà thôi.
3.6. Sấy trà
Trà sau khi hấp thụ hương ẩm sẽ được sấy khô ở nhiệt độ thích hợp. Công đoạn này thường là khó nhất trong tất cả các công đoạn. Vì trà cần được làm khô, nhưng quan trọng là không được làm mất đi hương thơm đã hấp thụ ở bước ủ hương.
Nhiệt độ nhẹ này đủ để hơi nước bốc hơi từ từ từ trong lõi cánh trà ra ngoài. Nhưng không quá nóng và đạt đến điểm bay hơi của các hợp chất mùi thơm. Qua đó giúp giữ cấu trúc tinh dầu hoa ở lại bên trong cấu trúc xốp của lá trà.
Trà sau khi sấy chỉ mới hoàn thành một lượt ủ. Trà đã thơm và có thể bán ngay rồi. Nhưng loại ngon thì phải ủ rồi sấy thêm ít nhất vài vòng nữa, thì hương mới sâu và pha được nhiều nước.
4. Cách pha lục trà lài
Để pha lục trà lài ngon thì nên dùng nước khoảng 80 đến 85 độ C. Tránh tuyệt đối việc dùng nước sôi 100 độ đổ thẳng vào trà vì sẽ làm “cháy” các chất tạo hương. Lại khiến trà bị đục và mất độ tươi.
4.1. Cách pha thưởng thức hằng ngày
-
Tỷ lệ: tỷ lệ 1:50. Ví dụ như 10g trà dùng cho 500ml nước.
-
Nhiệt độ nước lý tưởng: 80°C đến 85°C (Nếu nước sôi, hãy mở nắp ấm đợi khoảng 3-5 phút cho hạ nhiệt).
-
Cách pha: không nên tráng trà vì có thể vô tình bỏ đi nhiều tinh dầu hoa. Khi pha thì bạn đổ một ít nước đầy khoảng 1/3 ấm. Có thể lắc nhẹ ấm để lá trà ngấu nước. Sau đó đợi tầm 10s rồi đổ nước đầy ấm. Hãm tầm 1-3 phút là có thể rót ra thưởng thức. Trà càng non, càng ủ hương nhiều thì hãm ngắn (khoảng 1 phút). Trà càng già, thì hãm dài hơn.
4.2. Cách ủ trà ứng dụng trong pha chế (trà trái cây hay trà sữa)
-
Tỷ lệ cốt trà: tỷ lệ 1:25 cho trà sữa, hay 1:40 cho trà trái cây. Ví dụ pha trà sữa thì 100g lục trà lài cho 2.5l nước. Trà trái cây thì 100g cho 4 lít nước. Đây là tỷ lệ đậm vừa, có thể gia giảm nếu muốn đậm hơn hay nhẹ hơn.
-
Nhiệt độ nước lý tưởng: 80°C đến 85°C. Nên dùng nhiệt kế mỗi lần pha mẻ lớn.
-
Cách pha: không nên tráng trà vì có thể vô tình bỏ đi nhiều tinh dầu hoa. Khi pha thì bạn đổ một ít nước đầy khoảng 1/3 dụng cụ pha (ca hoặc ấm lớn). Dùng muống pha chế khuấy và nhấn trà nhẹ để tất cả các lá trà ngấm đều nước. Sau đó mới rót đủ lượng nước để ủ cốt trà.
- Thời gian hãm: nên hãm trà trong khoảng 5-6 phút thôi. Dạng lục trà lài pha chế thường sẽ ướp hương liệu, nên tinh dầu hương lài chỉ nằm ở trên bề mặt lá trà mà thôi. Hãm thời gian ngắn là đủ để phần hương này tan vào nước. Đồng thời hạn chế chát trà.
5. Cách phân biệt trà lài ướp hoa tự nhiên và trà lài hương liệu
5.1. Kiểm tra bao bì
Đây là cách nhanh nhất và chính xác nhất. Theo quy định thì nếu thêm hương liệu thì nhà sản xuất bắt buộc phải ghi rõ trên bao bì.
-
Trà tự nhiên: Thành phần thường sẽ ghi rõ là trà ướp hoa lài tự nhiên. Nếu kỹ hơn thì họ còn sẽ ghi rõ là dùng cốt trà gì, trà đến từ đâu và số lần ướp.
-
Trà hương liệu: Thành phần sẽ có các từ như hương liệu thực phẩm, hương lài tổng hợp, thành phần tạo mùi, chất tăng hương… Nếu có dùng hoa lài khô thì như đã nói ở trên là thường chỉ mang tính chất trang trí.
5.2. Ngửi và quan sát lá trà khô
-
Ngửi mùi: trà ướp hoa thật thường có mùi thơm tự nhiên, thanh khiết và không gây khó chịu. Áp mũi ngử vào thật sâu sẽ chỉ thấy thơm mát và không khó chịu. Nếu mùi thơm nồng đến mức hắc và xộc lên mũi, thậm chí là chưa mở túi đã thấy thoáng mùi lài, thì khả năng cao là trà hương liệu.
-
Dùng tay bốc: thử dùng tay bốc một nắm trà khô rồi bỏ lại vào túi. Nếu tay bị lưu lại mùi thơm rõ rệt, dùng nước rửa vẫn còn mùi, thì rất có thể là trà tẩm hương liệu. Trà ướp hoa tự nhiên vẫn có lưu mùi trên tay, nhưng một chốc là hết.
-
Dùng giấy thấm: lấy một tờ giấy trắng như giấy A4, cho lá trà khô vào, bọc kín và dùng tay bóp, vò, chà xát mạnh. Mở giấy ra, nếu thấy vết dầu mỡ hoặc đốm màu thì chứng tỏ có hương liệu hóa học và có cả bột màu.
5.3. Pha trà và quan sát
-
Pha nước lạnh (nhiệt độ phòng): Pha trà với nước lạnh, để khoảng 5 phút. Trà ướp tự nhiên gần như không có màu và mùi, hương trà nhè nhẹ thôi. Trà tẩm hương liệu sẽ nhanh chóng có mùi thơm rõ rệt do hương liệu dễ tan trong nước ở nhiệt độ thấp.
-
Pha nước sôi: Khi đổ nước sôi vào, trà hương liệu sẽ lập tức giải phóng mùi thơm nồng nặc. Nước trà dễ bị đục, nổi bọt nhiều và đặc biệt xuất hiện một lớp váng dầu mỏng óng ánh nổi trên mặt nước.
5.4. Nếm và cảm nhận hậu vị
-
Trà tự nhiên: Trong vị trà có vị hoa. Đây là đặc trưng của trà ướp hoa tự nhiên. Hãy ngậm một ngụm trà trong miệng, không nuốt vội mà dùng lưỡi đảo đều. Trà ướp tự nhiên không chỉ mỗi hương, mà còn có vị của trà lẫn vị của hoa. Nuốt xuống miệng thơm lừng mùi hoa.
-
Trà hương liệu: thì mũi thì thấy thơm, nhưng nước trong miệng chỉ có vị đắng và hậu vị xơ sác của trà. Uống xong không có hậu ngọt và hương hoa bám toả.
5.5. Độ bền hương
-
Trà tự nhiên: Hương thơm bền bỉ. Chất trà và hoa có thể duy trì qua nhiều lần pha, tuỳ theo cốt trà và số lần ướp. Độ đậm hương giảm từ từ, chứ không rất thơm rồi bỗng nhiên mất hảng ở nước sau.
-
Trà hương liệu: Lần pha đầu tiên mùi rất nồng. Nhưng sang lần các lần pha kế tiếp thì hương trôi tụt rõ rệt. Thậm chí mất hẳn hương vị. Nước trà trở nên nhạt như nước lọc.