Chè Thái Nguyên

Chè Thái Nguyên là loại chè xanh đặc sản của tỉnh Thái Nguyên, nơi được ví là vùng ‘đệ nhất danh trà’ của Việt Nam. Chè Thái Nguyên nổi tiếng khắp cả Việt Nam nhờ vào hương ‘cốm’ ngọt ngào, vị đậm đà, béo ngậy và hậu ngọt kéo dài. Thế nên người đời mới có câu là ‘Chè Thái, Gái Tuyên’, vốn để ám chỉ muốn tìm phụ nữ đẹp thì hãy đến Tuyên Quang, còn muốn tìm mua trà ngon thì hãy đến với vùng đất Thái Nguyên.

Lịch sử vùng chè Thái Nguyên

Nguồn gốc của cây chè Thái Nguyên bắt đầu từ xã Tân Cương của tỉnh này, đây có thể nói là vùng chè nổi tiếng nhất và vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Lý do mà Tân Cương nổi tiếng không chỉ vì chất lượng chè xanh nơi đây rất cao, mà còn là do xã này còn là nơi đầu tiên trồng chè của tỉnh. Theo ghi chép của trang Họ Vũ Võ Việt Nam, thì người có công đưa cây những cây chè giống đầu tiên về trồng tại Tân Cương là cụ Vũ Văn Hiệt.

Vũ Văn Hiệt sinh vào năm 1883 ở làng Ngo, xã Bạch Sam, thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay. Cụ Hiệt sinh ra trong gia đình có truyền thống làm nghề mộc nên từ nhỏ ông đã đam mê với nghề, và dần trở thành người thợ giỏi có tiếng. Bỗng nhiên chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918) nổ ra nên thực dân Pháp phải tuyển thêm trai tráng từ các nước thuộc địa để bổ sung vào quân đội, và Việt Nam nằm trong số đó. Do có tay nghề làm mộc nên cụ Hiệt không phải ra mặt trận, mà được đưa sang Pháp làm việc ở xưởng tạo khuôn mẫu đúc máy bay. Cụ làm việc ở Pháp 4 năm, nhờ vào năng lực của mình mà cụ từ vị trí người thợ bình thường rồi được thăng lên chức Thất phẩm đội trưởng. Ông còn được trao huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh dành cho những người có công đóng góp lớn cho chính quyền Pháp. Khi ở tuổi 35 thì cụ Hiệt được về nước, ông cùng với những người về cùng đợt được chính quyền giao cho khai khẩn vùng Tân Cương thời bấy giờ.

Năm 1921, xã Tân Cương được chính thức thành lập. Dân thì thưa thớt mà cuộc sống vẫn khó khăn do gắn bó với việc trồng lúa và hoa màu. Thế nên vào năm 1922, cụ Hiệt xin ông nghè Sổ (quan đầu tỉnh) và một số quan tri huyện sang tỉnh Phú Thọ để lấy cây chè giống về trồng tại các vùng đồi thấp của địa phương. Do khí hậu thổ nhưỡng của Tân Cương rất thích hợp cho cây trà, nên những cây trà giống phát triển rất tốt và dần trở thành cây công nghiệp chính ở nơi đây. Đưa chè thành hàng hoá và là một trong những nguồn thu nhập chính yếu của người dân nơi đây. Nhờ có công đưa cây chè giống về đồng thời phổ biến phương pháp trồng và chế biến, nên cụ Hiệt được người dân bầu là tiên chỉ, cụ là người đầu tiên được bầu cho chức vụ này ở Tân Cương. Đến năm 1925 thì cụ Hiệt chuyển mô hình chế biến chè từ thủ công sang bán công nghiệp. Chè thành phẩm thì cụ lấy thương hiệu là Chè Con Hạc được phân phối từ Bắc vào Nam, và ra cả nước ngoài. Năm 1935, chè Tân Cương với thương hiệu Chè Con Hạc của cụ Hiệt giành giải nhất ở cuộc thi tấu xảo ở Hà Nội. Từ đó thì thương hiệu chè của cụ Hiệt cùng với chè Tân Cương ngày càng vang xa.

Nhờ vào nguồn thu từ cây chè mà cuộc sống của người dân ở xã Tân Cương càng được cải thiện. Hệ thống đường xá đẹp đẽ, trường học khang trang, cũng như các công trình tiện ích khác cũng bắt đầu xuất hiện. Thấy sự phát triển nhanh chóng của Tân Cương nhờ cây chè, những vùng khác của tỉnh Thái Nguyên cũng đưa cây chè giống về trồng. Cụ Hiệt được người dân tri ân và tặng cho bức hoành phi viết là “Quân Tử Vũ Bản” (người quân tử họ Vũ). Đến năm 1945, do cảm nặng nên cụ qua đời ở tuổi 63. Người dân ở Tân Cương vẫn cảm kích công ơn của cụ, và ví Vũ Văn Hiệt là ‘ông tổ chè Tân Cương’. Như một cách tri ân những đóng góp vô giá của ông cho nghành chè của Tân Cương cũng như của cả tỉnh Thái Nguyên.