Vài năm trước mình có viết một bài tổng quan về Ấm Tử Sa. Nhưng sau không có nhiều thời gian nên thôi không viết về chủ đề này nữa.
Gần đây có nhiều người lại hay hỏi mình về các loại đất tử sa. Ý là nên mua loại đất nào cho phù hợp với nhu cầu. Sau đây là tổng hợp ngắn về các loại đất tử sa của mình. Còn về việc đất nào dùng trà nào hợp thì cũng chỉ là trải nghiệm cá nhân mình. Bạn nên tự thực nghiệm thì sẽ chuẩn xác hơn.
Từ “tử sa” về cơ bản là đủ nghĩa rồi, tức là dòng đất tím làm lên ấm tử sa. Nhưng cho dễ đọc thì trong bài mình sẽ dùng thêm cụm từ “đất tử sa”, mặc dù bị thừa nghĩa nhưng sẽ gần gũi với đa số người sưu tầm ấm tử sa ở Việt Nam hơn.
Đất tử sa Nghi Hưng
Tử sa (紫砂) dịch ra là “tím” (紫) và “đá/cát” (砂), hay “đá tím” là loại đất sét đặc biệt khai thác ở khu vực quanh thị trấn Đinh Thục (丁蜀镇), thuộc thành phố Nghi Hưng (宜兴), tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Các mỏ tử sa nổi tiếng nhất tập trung ở khu vực Hoàng Long Sơn (黄龙山), nơi nhiều loại đất sét quý hiếm được tìm thấy. Khi tử sa được khai thác từ Hoàng Long Sơn, nó thường mang thêm tiền tố “Bổn Sơn” (本山), nhấn mạnh xuất xứ nguyên thủy và chất lượng cao.
Ấm tử sa có những “công năng” đặc biệt như:
- Giữ nhiệt tốt
- Lưu hương trà
- Thay đổi hương vị trà
Ngoài “công năng” thì ấm tử sa lại có độ thẩm mỹ cao, đến từ màu sắc đẹp mắt sau khi nung từ các loại đất, và khả năng tạo hình của nghệ nhân làm ấm. Nên dòng ấm này vừa có tính ứng dụng (pha trà) và thưởng lãm cao. Thích hợp để mua sử dụng để pha trà đơn thuần hay sưu tầm.
Các loại đất tử sa
Tên của từng loại đất tử sa thường dựa trên màu sắc của ấm sau khi nung. Các nhóm chính gồm:
- Tử Nê (紫泥)
- Hồng Nê (红泥)
- Chu Nê (朱泥)
Có riêng một loại đất thì lại gọi theo màu của đất sau khi khai thác, chứ không phải màu ấm thành phẩm. Đó là:
- Lục Nê (绿泥)
Ngoài ra thì có một loại đất không phải là một loại đất riêng biệt, mà pha trộn các loại đất trên mà thành. Đó là:
- Đoạn Nê (段泥), hay Đoàn Nê (团泥)
Tổng cộng là chúng ta có 5 nhóm đất chính để làm nên ấm tử sa.
Tử Nê (紫泥)
Tử Nê hay “đất tím” là loại đất tử sa truyền thống và phổ biến nhất. Cái tên “tử sa” đến từ việc ban đầu chỉ có đất tím được dùng làm ấm. Loại đất này có ít nhất 21 biến thể Tử Nê khác nhau, phân biệt dựa trên địa điểm khai thác và tầng địa chất.
Một số biến thể phổ biến và có thể tìm mua đó là:
- Đế Tào Thanh (底槽清)
- Thanh Hôi Nê (青灰泥)
- Thiên Thanh Nê (天青泥)
Tử Nê rất dẻo, dễ chế tác, ít co rút khi nung. Các ấm làm từ Tử Nê thường có màu từ nâu đỏ đến tím sẫm, và cấu trúc xốp giúp giữ hương trà rất tốt.
Ấm làm từ Tử Nê có độ công năng gần như là tốt nhất trong các loại đất tử sa. Vừa giữ nhiệt tốt nhất, lại vừa nhiều “khí khổng” giúp lưu hương trà. Ấm có thể pha hợp với hầu như mọi loại trà. Nhưng tạo khác biệt rõ thấy nhất chính là dòng trà đòi hỏi nhiệt cao và ổn định, cần nước trà dày và trơn tru. Như ô long Cao Sơn, ô long Đơn Tùng, Nham Trà hay trà Phổ Nhĩ.
Hồng Nê (红泥)
Hồng Nê hay “đất đỏ” là dòng đất có có màu đỏ cam nổi bật sau khi nung. Nhóm đất Hồng Nê gồm 2 nhóm chính:
- Tử Sa Hồng Nê (紫砂红泥)
- Chu Nê Hồng Nê (朱泥红泥)
Tử Sa Hồng Nê là biến thể màu đỏ tự nhiên của dòng Tử Nê. Còn Chu Nê Hồng Nê là biến thể màu đỏ đậm của Chu Nê.
Hồng Nê là cách gọi ngắn và phổ biến của Tử Sa Hồng Nê. Nếu không cần nghiên cứu sâu thì bạn có thể hiểu như vậy là đủ.
Một số biến thể nổi bật của Hồng Nê:
- Đại Hồng Nê (大红泥)
- Tiểu Hồng Nê (小红泥)
- Hồng Bì Long (红皮龙)
- Giáng Pha Nê (降坡泥)
Ở dạng thô, Hồng Nê có màu đỏ hoặc vàng, kết cấu đồng đều, khá đặc nhưng dễ nghiền nhỏ. Không giống Chu Nê, Hồng Nê không tan trong nước. Quá trình tạo hình và nung của Hồng Nê tương tự như Tử Nê nhưng độ xốp thấp hơn một chút.
Về mặt công năng thì Hồng Nê gần như là không khác gì Tử Nê. Có thể thua một tí thôi về độ giữ nhiệt và lưu hương. Nhưng bù lại thì Hồng Nê có tông màu cam hoặc đỏ. Nên đối với một số người thì có thể sẽ thích màu sắc của Hồng Nê hơn, để lên bàn trà sẽ nổi bật hơn.
Chu Nê (朱泥)
Chu Nê là loại đất đặc biệt vì không khai thác từ Hoàng Long Sơn, mà từ Triệu Trang Sơn (赵庄山). Trong các triều Minh – Thanh, Chu Nê chủ yếu lấy từ Triệu Trang Sơn và sau này là mỏ Hồng Vệ (红卫).
Chu Nê Hoàng Long Sơn có tồn tại nhưng rất hiếm, lý do là nằm ở tầng đất sâu và khó khai thác. Nhưng nhờ công nghệ khai thác hiện đại thì Chu Nê Hoàng Long Sơn mới trở nên phổ biến hơn từ thế kỷ 20.
Nên dòng đất này có 2 nhóm thường gặp:
- Chu Nê Hồng Vệ
- Chu Nê Triệu Trang
- Chu Nê Hoàng Long Sơn
Đây đều là những mỏ bị hạn chế khai thác. Nên nếu ấm làm từ đất chu nê đúng từ những mỏ này thường sẽ có giá khá cao.
Một trong những nguồn Chu Nê quý nhất được tìm thấy tại Tiểu Môi Diêu (小煤窑), tạm dịch là “mỏ than nhỏ”, đây là nhóm đất Chu Nê cực kỳ hiếm và khó chế tác. Tỷ lệ co rút cao và chỉ khoảng 60% ấm không bị hư dáng hay nứt vỡ sau khi nung.
Chu Nê thô có màu vàng, kết cấu mịn như phấn, và tan nhẹ trong nước, đây là đặc điểm khác hoàn toàn các loại đất tử sa còn lại (không tan trong nước).
Chính vì kết cấu quá mịn nên chế tác ấm bằng Chu Nê cực kỳ khó, nên ngày xưa chỉ các nghệ nhân kinh nghiệm lắm mới làm được ấm Chu Nê nguyên chất.
Ngày nay thì nhờ lò nung điện hiện đại hơn, nên việc kiểm soát nhiệt độ cũng chính xác hơn, cho nên chế tác Chu Nê cũng không còn khó như trước. Nhưng cũng chỉ có số ít nghệ nhân mới dám dùng nhóm đất này để làm ấm.
Ấm Chu Nê sau nung rất đặc, ít xốp hơn nhiều khi so với Tử Nê, và có bề mặt trơn nhẵn mịn gần như là gốm sứ. Dùng nắp ấm gõ nhẹ vào thành ấm thì nghe tiếng trong trẻo như tiếng chuông.
Do tính chất đặc biệt như vậy nên ấm từ Chu Nê thường hiếm hơn. Nghệ nhân làm nên ấm chắc chắn có tay nghề cao. Lại có màu sắc đẹp mắt như đỏ tươi, đỏ cam, đỏ nâu hay đỏ đậm. Nên Chu Nê rất được săn đón để sưu tầm nhờ độ “hiếm” và được chế tác tỉ mỉ.
Về mặt pha trà thì Chu Nê thật ra cũng dễ dùng. Hầu như các loại trà đều hợp vì tính chất đất ‘lành’, kiểu đất mà như sứ. Độ lưu hương cũng không nhiều như Tử Nê, nên nếu nhu cầu thưởng trà không cầu kỳ thì có thể chỉ dùng một ấm cho nhiều loại trà khác nhau. Lưu ý là tráng với nước sôi và để ráo ngay sau mỗi lần dùng.
Lục Nê (绿泥)
Lục Nê là loại đất cực kỳ hiếm, chỉ chiếm dưới 2% tổng lượng tử sa tự nhiên. Đất thô thường có màu xám xanh, sau nung ngả vàng nhạt hoặc nâu sáng.
Đây là loại đất được đặt theo màu sắc của đất sau khi khai thác (xám xanh). Chứ không đặt theo màu ấm thành phẩm như các loại đất tử sa trên.
Ấm sau khi nung từ Lục Nê sẽ màu vàng hoặc nâu sáng. Vậy nên những dòng ấm tử sa có màu xanh (lá cây hay nước biển) đang bán trên thị trường đều là màu không tự nhiên. Do người làm ấm kết hợp thêm đất với các thành phần oxit kim loại mà tạo màu.
Trong đất tử sa chỉ có cao lanh, quặng sắt, thạch anh là chính; thì không thể nào ra được màu xanh. Kể cả kỹ thuật nung như thế nào thì cũng chỉ ra được tím, đỏ, vàng, và phần nào là tông đen mà thôi.
Về cơ bản thì việc pha màu vào ấm là việc hoàn toàn bình thường. Một số đại sư như Cố Cảnh Chu hay Tưởng Dung cũng có những tác phẩm ấm làm từ đất pha màu. Mục đích là tác phẩm thể hiện được đúng nhất với ý tưởng nghệ thuật của họ. Tất nhiên là phối màu ở một lượng nhỏ, không gây hại cho sức khoẻ, và nằm trong tiêu chuẩn cho phép.
Lục Nê thì mình chưa sở hữu nên không rõ pha trà gì hợp. Nhưng tính chất có thể là giống với Đoạn Nê. Tức là hợp pha những dòng không cần giữ nhiệt cao và ổn định, thiên về hương, như bạch trà hay Ô Long xanh.
Đoạn Nê (段泥)
Đoạn Nê thực ra không phải một loại khoáng tử sa riêng biệt, mà là kết quả của sự pha trộn tự nhiên (ở trong lòng đất) hoặc nhân tạo giữa nhiều loại tử sa khác nhau. Chẳng hạn như Tử Nê, Hồng Nê, Chu Nê và Lục Nê.
Tên gọi ban đầu của loại đất này là Đoàn Nê (团泥), dịch nghĩa là “đất tập hợp lại”. Tức là ám chỉ việc các loại đất dính liền tự nhiên với nhau ở trong lòng đất. Tuy nhiên, do cách phát âm địa phương giữa “Đoàn” (团) và “Đoạn” (段) rất giống nhâu, dần dần thì tên gọi “Đoạn Nê” trở nên phổ biến hơn trong giới làm ấm.
Ấm làm từ Đoạn Nê thường nhẹ và xốp. Có màu sắc đa dạng từ vàng nhạt cho đến nâu cát, thích hợp cho những người thích tối giản gần thiên nhiên, kiểu mang hơi hướng wabi-sabi. Do cốt đất xốp và khí khổng lớn nên ấm từ Đoạn Nê có khả năng lưu hương rất tốt. Thích hợp uống các dòng trà mạnh về hương như bạch trà hay Ô Long xanh.
Nguồn tham khảo:
- Sách “Khoáng Tử Sa Nghi Hưng” (宜兴紫砂矿料) của Chu Trạch Vĩ (朱泽伟)
- Lịch sử: https://www.researchgate.net/publication/266647563_Analysis_on_the_Historical_Role_and_Significance_of_Purple_Clay_Teapot_and_Its_Inscription_Decoration
- Chất đất: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0026265X18319209
- Chất đất: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0272884212008711