Hồng trà là gì? Lịch sử của hồng trà, các loại hồng trà nổi tiếng

Hồng trà là gì?

Hồng trà hay trà đen là loại trà lên men được làm từ cây trà. Điểm khác biệt lớn nhất của hồng trà so với các loại trà khác nằm ở việc loại trà này được lên men hoàn toàn hay 100%. Quá trình lên men này biến đổi thành phần hoá học của lá trà tươi, giúp tạo nên hương vị cũng như màu sắc riêng của trà đen.

Hồng trà được sản xuất như thế nào?

Mỗi nơi sẽ có cách chế biến hồng trà khác nhau một chút. Về cơ bản thì hồng trà được chế biến bằng 4 bước sau: làm héo, vò, lên men và xao khô.

Lá trà sau khi hái sẽ phải trải qua một giai đoạn là làm héo. Làm héo là quy trình khi lá trà tươi được rải lên những chiếc nong bằng tre. Sau đó những chiếc nong được đặt nơi khô ráo và thoáng mát để lá trà héo đi, hay mất đi một phần lượng nước có trong lá trà. Mục đích của giai đoạn này là làm lá trà mất nước, qua đó rút gọn công đoạn chế biến. Đồng thời lá trà cũng mềm và dai hơn, nên khi vò thì lá trà sẽ khó bị rách hơn.

Sau khi làm héo thì lá trà sẽ được vò ở một nhiệt độ vừa phải. Vò là công đoạn giúp làm rách lớp biểu bì của lá trà. Qua đó giúp chất trà cũng như các thành phần enzyme thoát ra ngoài. Việc này giúp kích hoạt quá trình lên men thành hồng trà của lá trà, đồng thời giúp trà dễ pha hơn khi đã thành phẩm. Vò còn giúp định hình hình dáng lá trà đồng thời tác động lên hương vị trà sau khi chế biến.

Lá trà sau khi vò sẽ được lên men bằng cách để ở nơi mát và có độ ẩm cao để lá trà thuận lợi trong việc tiếp xúc với không khí. Lúc này các thành phần enzyme (men) sẽ đóng vai trò là chất xúc tác để chuyển hoá các thành phần của lá trà tươi. Lúc này lá trà từ màu xanh sẽ từ từ chuyển sang màu đỏ như đồng.

Lá trà chuyển từ màu xanh lá sang vàng nâu trong quá trình ủ.

Công đoạn cuối cùng của chế biến hồng trà là xao khô để lá trà ngừng quá trình lên men. Lá trà vừa được xao, vừa tiếp tục được vò để định hình lá trà. Lúc này hồng trà đã được thành phẩm. Một số vùng trà còn đưa lá trà thành phẩm đi hun khói. Việc này giúp tạo nên hương vị khói riêng của hồng trà, đồng thời giúp bảo quản trà được lâu hơn.

Hồng trà hay trà đen?

Hồng trà có nghĩa là ‘trà có màu đỏ’, thế nhưng ở Việt Nam thì hồng trà lại được gọi là trà đen. Lý do sự ra đời của từ hồng trà là do cách gọi giống tiếng Trung Quốc, vì người Trung Quốc gọi hồng trà theo màu nước trà của loại trà này. Trong khi đó từ ‘trà đen’ là gọi theo màu của lá trà trong tiếng Anh, vì người Anh gọi tên trà theo màu của lá trà. Thế nên hồng trà hay trà đen thì cũng đều dùng để chỉ cùng một loại trà.

Lịch sử của hồng trà

Các nhà sử học vẫn chưa xác định được chính xác thời điểm mà hồng trà ra đời. Một số giả thuyết cho rằng hồng trà ra đời vào khoảng thế kỷ 14 vào thời nhà Minh của Trung Quốc. Nhất là giai đoạn mà vị vua nổi tiếng trong nhiều tác phẩm văn học võ hiệp, đó là Chu Nguyên Chương, lên nắm quyền. Vào giai đoạn này thì uống trà được xem là văn hoá phổ biến trong nhiều tầng lớp. Trà vào thời gian này phổ biến nhất là dạng trà xanh được đóng thành bánh trà. Bánh trà được làm từ lá trà khô nghiền thành bột, sau đó kết hợp với bột gạo và đóng thành bánh. Những bánh trà này đắt như vàng nên bánh trà có thể được xem là một dạng tiền tệ.

Tuy nhiên, đa số các học giả tin rằng hồng trà ra đời muộn hơn vào khoảng thế kỷ 17. Và sự ra đời của hồng trà gắn liền với một vùng trà nổi tiếng ở Trung Quốc, đó là Vũ Di Sơn hay khu vực núi Vũ Di (thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc). Hay chính xác hơn là một làng ở Vũ Di Sơn, ngôi làng có tên là Đồng Mỗ. Đồng Mỗ là ngôi làng nằm ở một vị trí rất cao ở núi Vũ Di, và nơi đây được xem là nơi ra đời của hồng trà. Hiện nay Đồng Mỗ được UNESCO lẫn chính phủ Trung Quốc bảo tồn vì nơi đây có nhiều di tích lịch sử và có một chi loài bướm hiếm chỉ có ở nơi đây.

đồng mỗ

Làng Đồng Mỗ ngày nay.

Là khu vực được bảo tồn nhưng không có nghĩa là làng Đồng Mỗ không còn sản xuất trà. Người dân nơi đây vẫn làm trà và có thu nhập rất tốt nhờ vào một loại hồng trà cực kỳ nổi tiếng có tên là Kim Tuấn Mi. Hồng trà ở Trung Quốc vốn dĩ không phải là loại trà phổ biến nhất, mà đó là vị trí của trà xanh. Tuy nhiên, từ khi Kim Tuấn Mi xuất hiện vào năm 2005 thì hồng trà lại trở thành loại trà được ưa chuộng và phong trào uống hồng trà lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Làng Đồng Mỗ nổi tiếng là nơi khai sinh của những loại hồng trà nổi tiếng nhất. Thế nhưng ít ai biết được là việc hồng trà ra đời lại là một chuyện hết sức tình cờ.

Truyền thuyết về sự ra đời của hồng trà

Cuối thời nhà Minh là thời kỳ đen tối cũng như báo hiệu sự sụp đổ của triều đại kéo dài gần 3 thế kỷ này. Triều chính hỗn loạn cộng với việc quan viên tham ô bất tài nên nạn đói xảy ra trên quy mô toàn quốc. Nông dân thì khởi nghĩa khắp nơi còn giặc ngoài như Hậu Kim thì đã xâm chiếm một phần đất nước. Một nhóm nhỏ người dân chạy nạn đã trốn lên núi Vũ Di và thành lập nên ngôi làng Đồng Mỗ. Không ai rõ ngôi làng hình thành chính xác là vào lúc nào, nhưng ước đoán là vào khoảng thời gian Minh Thần Tông đến Minh Tư Tông trị vì. Tức là vào khoảng cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.

Địa hình ở núi Vũ Di cực kỳ hiểm trở, thế nên đây là nơi trú ngụ tốt của những người chạy nạn. Núi Vũ Di cũng vốn dĩ là nơi sản xuất trà từ vài thế kỷ trước khi Đồng Mỗ được hình thành. Thế nên những người chạy nạn cũng chọn cây trà là một trong những cây trồng chính bên cạnh một số ít những cây lương thực khác. May mắn là do được trồng ở nơi có độ cao lớn, cộng với việc cây trà phát triển chậm do đất kém, nên trà ở nơi đây có hương thơm và có vị rất ngọt. Nhu cầu uống trà vào thời gian này cũng rất lớn nên người dân Đồng Mỗ có thể thoải mái sống dựa vào cây trà.

Cây trà mọc bên cạnh những dốc núi đá cheo leo.

Khoảng thời gian mà Đồng Mỗ mới hình thành thì hồng trà vẫn chưa ra đời. Loại trà duy nhất được sản xuất vào lúc này chính là trà xanh. Trà xanh vào thế kỷ 17 thì đã không còn được sản xuất dưới dạng đóng thành bánh như trước nữa. Mà trà thành phẩm chính là loại trà nguyên lá giống như ngày nay. Vì vào cuối thế kỷ 14 thì Chu Nguyên Chương đã ban hành lệnh cấm không cho sản xuất trà đóng bánh. Do trà quý như vàng nên bánh trà cũng được sử dụng như một loại tiền tệ. Lo ngại việc bánh trà có thể gây ảnh hưởng đến loại tiền tệ chính thức, Chu Nguyên Chương đã ban hành lệnh cấm không cho sản xuất bánh trà.

Việc bánh trà bị cấm đã khiến người làm trà phải thay đổi hình thức chế biến. Người làm trà ở Hoàng Sơn (nổi tiếng với trà Hoàng Sơn Mao Phong) đã sáng chế ra kiểu trà nguyên lá được xao bằng chảo. Cách làm trà này được người làm trà ở An Huy (phía Nam tỉnh Phúc Kiến) học hỏi và chế biến thành công kiểu trà xanh nguyên lá của họ. Ở phía Bắc tỉnh Phúc Kiến thì những người làm trà ở núi Vũ Di lại học lại từ những người làm trà ở An Huy.

Vào một ngày mùa xuân, khi mùa vụ trà đang đang vào đỉnh điểm, thì người dân ở Đồng Mỗ phải chạy trốn vào rừng sâu vì có người báo tin một toán quân lính đang sắp tiến vào làng. Vốn xuất thân là những người chạy loạn nên dân làng rất sợ chiến tranh. Thế nên nghe tin quân lính xuất hiện thì họ bỏ tất cả những việc đang làm và trốn ngay vào rừng. Hoá ra toán quân lính này tiến vào Đồng Mỗ không phải để bắt bớ, mà là vì vị chỉ huy của toán quân này muốn đánh lén đối phương nên đi xuyên rừng núi hòng qua mắt quân địch.

Khi tiến vào làng thì toán quân này rất ngạc nhiên vì không thấy bóng dáng một người nào cả. Thế nên những binh lính này cứ mặc nhiên ăn thức ăn bỏ lại và nghỉ lại trong làng. Lúc này lá trà vừa mới thu hoạch lại chưa kịp chế biến thì phải chạy trốn, nên mỗi nhà lại có những đống trà lớn. Quân lính cứ nghĩ lá trà là cỏ cây bình thường nên rải lá trà làm chỗ ngủ.

Đến mấy ngày thì toán quân lính này mới rời đi. Khi người dân trở lại làng thì lá trà qua mấy ngày đã lên men hết. Thay vì vứt bỏ lá trà và chịu đói trong những tháng sắp tới thì người dân Đồng Mỗ vẫn chế biến trà theo cách bình thường. Để loại bỏ mùi hôi thối do quân lính nằm lên lá trà thì họ nghĩ ra cách là hun lá trà bằng gỗ tùng mọc rất nhiều trong rừng. Thế là hồng trà đã ra đời theo cách như vậy.

Truyền thuyết thì là như vậy. Có chuyện thì lại kể là người dân Vũ Di học cách làm trà từ An Huy. Nhưng do học chưa thành thục nên khi sản xuất trà xanh lại quên ngăn lá trà lên men ở công đoạn nào đó. Trà thành phẩm thay vì có màu xanh lại có màu nâu đen. Nước trà thì lại có màu đỏ. Hương vị trà thơm ngon theo một cách khác trà xanh, mà trà thì vẫn bán được. Thế là hồng trà ra đời theo một cách ngộ nghĩnh như vậy.

Hồng trà xuất hiện ở Châu Âu

Người Châu Âu đã bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ 17. Tức là trùng với khoảng thời gian mà Đồng Mỗ được thành lập. Trà cũng chính là một trong những mặt hàng chính mà người Châu Âu nhập khẩu từ Trung Quốc từ cuối thế kỷ 17. Vào thời gian này thì trà xanh vẫn là loại trà được người Trung Quốc ưa thích nhất. Thế nên phần lớn trà xuất khẩu đi Châu Âu không gì khác chính là trà xanh.

Theo một ghi chép về kiểm kê hàng hoá của Công ty Đông Ấn Anh (Dutch East India Company) vào năm 1716 thì trà mà Trung Quốc xuất đi chính là trà xanh. Tuy nhiên, vẫn có một số thùng hàng có chứa một loại trà gọi là trà Bohea. Bohea chính cách phát âm của người Châu Âu dành cho trà đến từ Vũ Di. Do từ Vũ Di khó phát âm nên những thuỷ thủ đọc trại đi là Bohea. Và những thùng hàng chứa trà Bohea ấy không đâu khác chính là hồng trà. Mãi đến tận sau này đến tận thế kỷ 20 thì núi Vũ Di vẫn được gọi là Bohea. Từ Vũ Di hay Wuyi mới dần thay thế được Bohea trong vài chục năm trở lại đây.

Đội tàu Hà Lan của Công ty Đông Ấn Anh.

Mặc dù mặt hàng trà xuất khẩu chính là trà xanh, hồng trà lại bán chạy hơn. Hồng trà được ưa chuộng hơn ở Châu Âu vì khách hàng người Anh thích uống hồng trà hơn. Lý do là hồng trà có chứa nhiều tannin hơn trà xanh, khiến cho trà đắng hơn. Nước ở Luân Đôn (thủ đô nước Anh) lại là nước ‘cứng’ (nhiều kiềm), do nước chứa nhiều thành phần khoáng. Khi hồng trà pha với nước ‘cứng’ thì tannin bị thành phần khoáng trong nước trung hoà. Việc này khiến hồng trà bớt đắng đi nhiều, khiến cho trà thơm ngon hẳn ra.

Nước Anh hiện nay là một trong một trong những quốc gia tiêu thụ trà tính theo đầu người lớn nhất thế giới. Thế nhưng vào thế kỷ 17 thì uống trà vẫn là một chuyện xa lạ. Việc này thay đổi hoàn toàn khi Công chúa Catherine của xứ Braganza (Bồ Đào Nha) được gả cho vua Charles đệ Nhị (Anh Quốc). Công chúa Catherine là một người rất mê uống trà. Với tư cách là vợ vua thì bà là người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên phong cách sống ở chốn hoàng gia. Thế nên dần dần thì uống trà trở thành ‘mốt’ thời thượng của giới hoàng tộc.

Công chúa Catherine của xứ Braganza.

Đến khoảng những năm 1730s thì nhu cầu mua hồng trà ở nước Anh tăng chóng mặt. Trà xanh dần dần bị thay thế hoàn toàn bởi hồng trà. Những người làm trà ở Vũ Di phải gia tăng diện tích trồng cũng như năng suất chế biến để đáp ứng được nhu cầu mới này. Khoảng thời gian này có thể nói là thời kỳ hoàng kim nhất trong lịch sử của vùng trà Vũ Di.

Hồng trà vào khoảng đầu thế kỷ 19 vẫn được gọi là trà Bohea. Người Trung Quốc thì gọi hồng trà là trà Vũ Di. Từ ‘hồng trà’ hay ‘trà đen’ vẫn chưa ra đời. Sau khi Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất kết thúc (1842), thì các thương nhân người Anh bắt đầu gọi trà Bohea là trà đen. Trà đen là từ dùng để ám chỉ tất những loại trà lên men.

Khi các thương gia người nước ngoài bắt đầu gọi tên trà đen. Thì cái tên ‘hồng trà’ cũng được các thương gia người Trung Quốc ở Thượng Hải bắt đầu sử dụng. Vẫn chưa có giả thuyết nào chắc chắn về cái sự ra đời của cái tên ‘hồng trà’. Nhiều người tin rằng sở dĩ thương gia Trung Quốc dùng tên ‘hồng trà’ là vì nước trà có màu đỏ. Màu của ‘hồng trà’ (trà đỏ) còn đối nghịch với ‘lục trà’ (trà xanh). Vì màu đỏ là màu đối nghịch với màu xanh. Và trà xanh là trà không lên men, còn hồng trà là loại trà được lên men. Người Trung Quốc tin là từ trà đen không thích hợp để gọi tên trà. Và màu đen biểu tượng cho phần ‘âm’ trong âm dương, không may mắn. Màu đỏ là màu của may mắn nên từ ‘hồng trà’ thích hợp hơn.

Hồng trà trong thời kỳ hiện đại

Hồng trà được trồng ở Ấn Độ

Vào đầu thế kỷ 19, không chỉ trà mà người Anh còn ưa chuộng nhiều sản phẩm khác đến từ Trung Quốc, đặc biệt là đồ gốm sứ và lụa. Người Anh dùng bạc để đổi lấy hàng hoá. Và khi nhu cầu hàng Trung Quốc tăng cao thì bạc lại càng đổ vào Trung Quốc càng nhiều. Trong khi đó nước Anh lại cần tiền để cấp vốn cho những cuộc chiến ở nhiều nơi, nhất là ở nước Mỹ. Thế là họ phải đề ra nhiều kế hoạch để dòng tiền lại quay trở về nước Anh. Một trong những cách đó là buôn thuốc phiện từ Ấn Độ về Trung Quốc. Thuốc phiện được mua bằng bạc và tiền lại đổ về nước Anh.

Hệ quả của việc buôn thuốc phiện ở Trung Quốc là tạo ra hàng nghìn con nghiện ở mọi tầng lớp. Điều này đã châm ngòi cho cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất. Do vua nhà Thanh lúc này muốn cấm thuốc phiện và giảm sự ảnh hưởng của người Anh ở Trung Quốc.

Vườn trà ở Assam

Người Anh còn có một cách khác để giảm phụ thuộc vào hàng hoá Trung Quốc. Đó chính là tự trồng và sản xuất trà ở những thuộc địa họ đang chiếm giữ. Trong đó có Ấn Độ, Sri Lanka và Java.

Công ty Đông Ấn Anh bắt đầu trồng trà theo quy mô lớn ở Assam (Ấn Độ) từ những năm 1820s. Giống trà mà người Anh sử dụng là một giống bản địa, đã được trồng từ rất lâu bởi dân tộc Cảnh Pha (hay người Kachin). Người Cảnh Pha là một sắc tộc sống ở phía Bắc của Myanmar, ở Vân Nam (Trung Quốc) và tỉnh Arunachal Pradesh (Ấn Độ). Người Cảnh Pha có nguồn gốc từ Tây Tạng, mà Tây Tạng lại là điểm cuối của con đường Trà Mã Đạo nổi tiếng. Thế nên không có gì là lạ khi người Cảnh Pha có truyền thống uống trà.

Người Cảnh Pha cũng chính là những người khiến người Anh nảy ra ý tưởng trồng trà tại Ấn Độ. Họ chế biến trà bằng cách hái lá trà nõn, sau đó phơi trong ba ngày ba đêm. Sau đó lá trà khô được bỏ vào ống tre và được để gác bếp trong một thời gian. Nhờ được hun khói khi gác bếp nên trà có thể để được nhiều năm mà vẫn giữ được hương vị tự nhiên.

Phụ nữ Cảnh Pha. Họ có nét giống người Đồng Á hơn là Ấn Độ.

Đến khoảng những năm 1850s thì càng có nhiều đồi trà mọc lên ở Assam. Và Assam hiện nay là vùng trà riêng biệt lớn nhất thế giới. Và hồng trà Assam cũng rất được ưa chuộng ở các nước Châu Âu cũng như Bắc Mỹ.

Hồng trà bị lãng quên sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai

Sau Chiến tranh Thế Giới lần thứ hai thì hồng trà gần như bị lãng quên ở nước Anh. Khi quân Đồng Minh chiến thắng với sự giúp đỡ rất lớn của Mỹ thì văn hoá Mỹ bỗng nhiên được lan toả khắp nơi. Thức ăn nhanh và cà phê kiểu Mỹ lại trở thành một nét văn hoá mới được du nhập và lan toả rộng rãi. Chưa kể đến viêc nước Anh đang hồi phục sau chiến tranh. Thực phẩm cũng như những nhu yếu phẩm khác vô cùng khan hiếm nên thú vui uống hồng trà cũng không còn được để cao như trước.

Phải mãi đến những năm 1980s thì tình yêu với hồng trà của người Anh mới quay trở lại. Hàng loạt những tiệm trà bắt đầu mọc lên ở khắp nước Anh. Sách và tiểu thuyết về trà cũng thi nhau được xuất bản. Vào những năm đầu 1990s thì Tổ chức trà nước Anh còn mời những người mẫu và nhà thiết thế thời trang nổi tiếng làm đại sứ trà. Không chỉ trong nước mà văn hoá uống hồng trà của nước Anh còn ảnh hưởng lên nhiều quốc gia khác, nhất là nước Mỹ. Thậm chí những quốc gia vốn chỉ thích uống trà xanh như Nhật Bản và Hàn Quốc cũng ít nhiều bị ảnh hưởng.

Hồng trà và Trung Quốc hiện đại

Cái tên ‘hồng trà’ ra đời ở Thượng Hải. Và hồng trà cũng là một trong những biểu tượng văn hoá nổi bật nhất của thành phố cảng này bên cạnh Thạch Khố Môn và sườn xám. Đến mãi tận ngày nay thì hồng trà vẫn là loại trà được người Thượng Hải ưa chuộng nhất. Mặc dù ở các tỉnh thành lân cận như Chiết Giang và Giang Tô thì trà xanh vẫn là loại trà được ưa chuộng hơn. Hồng Trà từ Thượng Hải đã đi khắp mọi nơi. Và người Thượng Hải vẫn giữ một tình yêu đối với hồng trà.

Sườn xám và hồng trà. Hai trong số nét văn hoá nổi bật của Thượng Hải.

Cách làm hồng trà ra đời ở Vũ Di và chế biến hồng trà cũng bắt đầu lan truyền sang các vùng khác. Trong đó có An Huy và Vân Nam. Tỉnh An Huy nổi tiếng nhờ vào 2 loại trà xanh nằm trong Thập Đại Danh Trà đó là Hoàng Sơn Mao Phong và Lục An Qua Phiến. Núi Hoàng Sơn ở An Huy cũng là nơi sáng tạo ra cách làm trà xanh nguyên lá bằng cách xao chảo. Nhờ học hỏi cách làm hồng trà từ Vũ Di, An Huy lại tiếp tục có thêm một loại trà nữa lọt vào Thập Đại Danh Trà. Đó là một loại trà có tên là Kỳ Môn Hồng Trà. Đây là loại trà ưa thích của Nữ hoàng Victoria (1819-1901) do trà có vị ngọt và the mát đặc trưng.

Tỉnh Vân Nam, nơi có những vườn trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi, cũng bắt đầu chế biến hồng trà vào đầu thế kỷ 20. Vào năm 1938, một thương nhân và người làm trà đến từ Kỳ Môn (An Huy) đã lập nhà máy và sáng tạo nên một loại hồng trà có tên là Điền Hồng. Đặc điểm của loại trà này là có lông vàng bao quanh cánh trà, do trà được làm từ búp trà của cây trà cổ thụ. Do búp trà cổ thụ có nhiều lông trắng bao quanh, nên khi chế biến thì những lông trắng này biến thành màu vàng rất đẹp mắt. Trà Điền Hồng cũng dần trở thành một trong những loại hồng trà trứ danh đến từ Vân Nam.

Các loại hồng trà nổi tiếng

Đại Hồng Bào

Đại Hồng Bào có thể nói là một trong những loại trà nổi tiếng nhất của Trung Quốc. Về nguồn gốc của loại trà này thì Đại Hồng Bào là một giống trà mọc ở vùng núi Vũ Di. Theo truyền thuyết phổ biến thì một sĩ tử đang trên đường đi ứng thí thì ngã bệnh. Một vị sư tình cờ đi ngang qua đã pha một loại trà để vị sĩ tử này uống. Sau khi uống thì sĩ tử này lành bệnh nhanh chóng và đã kịp kỳ thì ở kinh thành. Sau khi đỗ Trạng Nguyên thì vị tân Trạng Nguyên trở lại để cảm ơn nhà sư và để hỏi lá trà được hái từ đâu. Sau khi được nhà sư chỉ đến cây trà mà ông đã hái thì vị Trạng Nguyên cởi áo bào màu đỏ mà mình đang mặc và quấn ba vòng quanh thân trà. Kể từ đó thì giống trà này có tên là Đại Hồng Bào (áo choàng màu đỏ).

Một số cây trà Đại Hồng Bào cổ vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay. Những cây trà này trở thành một điểm tham quan hấp dẫn đối với những du khách từ khắp nơi. Một số giống trà mới ở Vũ Di hiện nay đều có nguồn gốc từ những cây trà cổ này. Để bảo tồn tính nguyên vẹn của giống trà Đại Hồng Bào thì chính phủ đã cấm hái lá trà từ những cây trà cổ này từ năm 2007.

hồng trà, đại hồng bào

Nước trà Đại Hồng Bào

Tuy nhiên, trà Đại Hồng Bào hiện nay hầu như là một blend hay hỗn hợp giữa nhiều loại trà khác nhau. Thay vì làm từ giống trà Đại Hồng Bào nguyên thuỷ do những cây trà gốc đang được bảo tồn. Các loại trà được tạo nên trà Đại Hồng Bào mới này đều được tuyển lựa từ những giống trà con cháu của những cây Đại Hồng Bào kể trên. Mỗi gia đình làm trà ở Vũ Di sẽ có một công thức riêng để phối các loại trà khác nhau để tạo ra Đại Hồng Bào. Thế nên đôi khi cùng là một loại trà nhưng khi uống của từng gia đình khác nhau thì hương vị sẽ khác đi một chút.

Những cây trà Đại Hồng Bào gốc. Hiện nay những cây trà này thuộc diện bảo tồn của chính phủ. Không có ai được phép thu hái cũng như nghiên cứu.

Kim Tuấn Mi

Một loại trà khác cũng đến từ vùng núi Vũ Di đó là Kim Tuấn Mi. Trong khi Đại Hồng Bào đã nổi tiếng từ hàng trăm năm nay thì Kim Tuấn Mi mới ra đời gần đây, tức là vào năm 2005. Cũng khác với Đại Hồng Bào thì sự ra đời của Kim Tuấn Mi là một câu chuyện có thật, chứ không hề gắn liền với truyền thuyết nào cả. Loại trà này được tạo ra bởi hãng trà có tên là Vũ Di Chánh Sơn.

Trong lúc vị chủ tịch của hàng trà đang ngồi nói chuyện với hai vị khách của mình ở ngoài sân vườn thì có một nữ nông dân lớn tuổi đi ngang qua. Lúc này đang là mùa hè và lại vào giữa trưa nên thời tiết rất nóng bức. Một vị khách hỏi người nông dân là đang đi đâu giữa thời tiết khó chịu như vậy. Người nữ nông dân mới trả lời là bà đang trên đường đến vườn trà để hái trà. Thấy tội nghiệp cho người nông dân giống như bà lão nên vị khách đã gợi ý vị chủ tịch hãng trà tạo ra một loại hồng trà thật cao cấp thay vì cách làm truyền thống. Như vậy thì lợi nhuận sẽ cao hơn, và người nông dân trồng trà sẽ phải bỏ ít công hơn mà thu nhập lại cao hơn.

Vị chủ tịch hãng nghe theo rồi bảo bà lão là ông sẽ mua búp trà (lá trà non nhất) với giá cao sau khi bà thu hoạch xong. Người nữ nông dân dành hết cả buổi chiều để chỉ hái được 1.5 kg búp trà tươi và bán cho vị chủ tịch hãng trà. Ông bắt công nhân của mình phải chế biến số búp trà tươi này bằng tay. Và loại trà thành phẩm chỉ còn nặng 150g. Việc chế biến hồng trà từ búp trà hoàn toàn là chuyện hiếm. Vì hồng trà thường là hỗn hợp của lá trà non lẫn những lá trà già ở thấp hơn. Như vậy thì hồng trà sẽ có vị mạnh cũng như ngọt hơn. Thế nhưng đây là thử nghiệm mà vị chủ tịch quyết thử cho bằng được.

kim tuấn mi, hồng trà

Cọng trà Kim Tuấn Mi.

Vào ngày hôm sau thì vị chủ tịch thử trà với hai vị khách. Khi pha thì tất cả mọi người đều thấy ngạc nhiên về hương vị thơm ngon không tưởng của loại trà thử nghiệm này. Trà có hương hoa và mật ong lan toả khắp nơi. Vị trà thì thay vì ngọt gắt như hồng trà thông thường thì lại rất dịu nhẹ và thanh tao. Hậu vị cũng nhẹ nhàng.

Lá trà có màu đen, nhỏ và dài, lại được bao phủ bởi lông tơ màu vàng nên trà được đặt tên là Kim Tuấn Mi. Kim có nghĩa là vàng, vừa để miêu tả màu cọng trà, vừa để miêu tả màu của nước trà. Vì Kim Tuấn Mi loại cao cấp thường có nước trà màu vàng sáng chứ không phải màu đỏ truyền thống của hồng trà. Tuấn có nghĩa là ngựa tốt (tuấn mã) vì lá trà khi để trong khay nhìn giống như đàn ngựa đang phi. Tuấn trong tiếng Trung cổ còn có nghĩa là núi cao, tức là ám chỉ trà đến từ vùng núi cao của Vũ Di. Theo vị chủ tịch thì từ Tuấn còn có ý nghĩa là mong muốn cho hãng trà của ông phát triển nhanh như ngựa phi. Còn Mi có nghĩa lông mày. Chữ Mi thường được sử dụng để đặt cho tên trà như trà xanh Trần Mi hay bạch trà Thọ Mi.

hồng trà, kim tuấn mi

Khác với nhiều loại trà khác thì nước trà Kim Tuấn Mi có màu vàng chanh sáng rất đẹp.

Từ khi ra đời thì Kim Tuấn Mi đã tạo nên cơn sốt. Vì loại trà này không chỉ yêu thích chỉ vì hương vị trà không. Mà loại trà này lại còn có ý nghĩa may mắn và giá lại đắt đỏ nên thích hợp làm quà biếu. Kim Tuấn Mi ra đời trong giai đoạn mà kinh tế của Trung Quốc phát triển chóng mặt và mức sống người dân tăng cao. Những người có thu nhập thường thích mặt hàng xa xỉ và gắn liền với thiên nhiên và truyền thống. Trà cũng có thể là một mặt hàng xa xỉ, và Kim Tuấn Mi là một trong số những loại trà xa xỉ nhất. Nhờ vậy mà Kim Tuấn Mi lại càng nổi tiếng. Kéo theo đó là phong trào uống hồng trà phổ biến trở lại.

Ông chủ hãng trà và những người giúp phát minh ra Kim Tuấn Mi.

Hồng trà Darjeeling

Hồng trà Darjeeling có thể nói là loại hồng trà được biết đến nhiều nhất ở các quốc gia phương Tây. Darjeeling là vùng trà lớn nhất thế giới nằm ở phía Đông của Ấn Độ. Khác với các vùng trà khác của Ấn Độ khi hồng trà được chế biến từ giống trà Vân Nam lá to (assamica) thì trà từ Darjeeling được chế biến từ giống trà lá nhỏ hơn (sinensis) được du nhập từ Trung Quốc.

hồng trà Darjeeling

Hồng trà Darjeeling được ví là ‘rượu champagne của trà’, và là loại trà này rất được ưa chuộng ở các nước Châu Âu. Nơi mà hồng trà Darjeeling có thể được tìm thấy ở gần như ở mọi siêu thị và các hiệu trà cao cấp.

Giống như trà Trung Quốc thì trà Ấn Độ cũng có hệ thống phân loại riêng của họ. Loại trà cao cấp nhất được gọi là First Flush, đây là loại trà được thu hoạch vào mùa xuân từ giữa tháng Ba cho đến tháng Năm. Second Flush được thua hoạch vào mùa hè, từ tháng Sáu cho đến giữa tháng Tám. Còn trà vụ thu được gọi là Third Flush, được thu hoạch từ tháng 10 cho đến tháng 11.

Hồng trà Ceylon

Hồng trà Ceylon là loại trà đến từ đảo quốc Sri Lanka. Trước đây Sri Lanka có tên là Ceylon nên trà được trồng ở nơi đây được gọi luôn là trà Ceylon. Mặc dù là một đảo quốc nhỏ nhưng Sri Lanka hiện này là quốc gia xuất khẩu trà lớn thứ tư thế giới. Đứng trên cả Việt Nam và chỉ đứng sau Ấn Độ, Trung Quốc và Kenya.

Sri Lanka có địa hình với nhiều dãy núi cao và kéo dài nên cùng là trà Ceylon nên mỗi vùng sẽ có một hương vị khác nhau. Nổi tiếng nhất ở Sri Lanka là trà đến từ Uva. Đây là vùng trà nằm ở trung tâm của Sri Lanka. Trà của Uva thường có vị ngọt tự nhiên và hương gỗ nồng nàn. Sát bên Uva là vùng trà có tên là Nuwara Eliya. Đây là vùng trà có độ cao lớn nhất ở Sri Lanka. Nhờ có độ cao lớn nên trà đến từ Nuwara Eliya có hương hoa và vị thanh mát đặc trưng của trà trồng ở núi cao.

Hồng trà Earl Grey

Trà Earl Grey là một dạng hồng trà ướp hương tinh dầu bergamot. Bergamot là một giống cam thường mọc ở nước Ý và Pháp. Tinh dầu được lấy từ vỏ của quả bergamot, sau đó được ướp vào trà để tạo nên hương vị riêng.

Trà Earl Grey hay trà Bá tước Grey được nhiều người tin là được đặt theo tên của Charles Grey. Ông là thủ tướng của nước Anh vào những năm 1930s. Ông thích uống trà nên thường hay nhận quà là những hộp hồng trà ướp bergamot.

Có truyền thuyết thì kể rằng trong một chuyến ghé thăm Trung Quốc. Một trong những phụ tá của Charles Grey đã nhảy xuống sống cứu một đứa bé sắp bị chết đuối. Cha đứa bé cảm kích nên đã tặng vị thủ tướng này một hộp trà ướp tinh dầu bergamot. Tuy nhiên theo thực tế thì Charles Grey chưa từng đến Trung Quốc. Và kỹ thuật ướp hương vào trà mãi sau này mới ra đời.

Loại trà Earl Grey gắn liền với tên tuổi của hãng trà Twinings. Hãng trà này cũng khẳng định là chính họ mới là những người đầu tiên thương mại hoá trà Earl Grey. Theo họ thì một vị khách người Trung Quốc đã tạo ra công thức hồng trà riêng cho Charles Grey. Vì nước mà nơi vị thủ tướng này sinh sống hơi có mùi chua khó chịu nên khi pha trà Earl Grey thì sẽ làm mất đi mùi chua này. Phu nhân của Charles Grey đã dùng trà này để thiết đãi các chính trị gia nổi tiếng. Thế nên tiếng tăm của loại trà này càng ngày càng được nhiều người biết đến. Một hãng trà đã hỏi mua lại công thức của trà Earl Grey và trở nên nổi tiếng khắp thế giới với loại trà này. Và hãng trà đó không ai khác đó chính là Twinings.

Lợi ích cho sức khoẻ của hồng trà

Về cơ bản thì tất cả các loại trà đều chia sẻ những thành phần gần giống nhau. Thế nên lợi ích cho sức khoẻ của hồng trà cũng sẽ phần nào giống với các loại trà khác, như trà xanh chẳng hạn. Tuy nhiên, do được lên men nên hồng trà sẽ mất đi một số thành phần đặc trưng của lá trà tươi. Và cũng sẽ có những thành phần riêng biệt. Và những thành phần này tất nhiên sẽ có những lợi ích sức khoẻ riêng.

Khác với trà xanh thì các loại trà được lên men như hồng trà có chứa nhiều nhóm chất theaflavin và thearubigin. Và hai nhóm chất này đều có khả năng chống oxy hoá rất tốt. Sau đây là một số nghiên cứu dựa trên hồng trà:

Hồng trà giúp giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư

Theo một số nghiên cứu thì việc uống hồng trà thường xuyên có thể giúp giảm nguy cơ mắc một số bệnh về ung thư. Trong đó có ung thư dạ dày (n), ung thư tuyến tiền liệt (n), và ung thư vú (n).

Tuy nhiên, bạn không nên tin là việc uống hồng trà là một cách hiệu quả để trị ung thư. Vì những nghiên cứu này dựa trên thí nghiệm trên động vật. Mặc dù vậy thì việc uống hồng trà thường xuyên là một dạng chế độ dinh dưỡng tốt và có thể góp phần nào vào việc ngừa ung thư.

Hồng trà giúp giảm cân và béo phì

Thành phần theaflavin có trong hồng trà được tin là có khả năng làm giảm sự tích tụ của mỡ. Nhất là ở các bộ phận dễ hình thành mỡ như bụng, mông hay đùi. Ngoài ra hồng trà còn giúp ức chế quá trình tổng hợp acid béo và kích thích quá trình oxy hoá chất béo (đốt mỡ). (n)

Những tác dụng này giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ cũng như béo phì.

Hồng trà giúp giảm lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao có thể gây ra những tác động xấu đến cơ thể như: bệnh tiểu đường loại 2, béo phì, các bệnh về đường tim mạch, các bệnh về thận và trầm cảm. (n)

Hồng trà được tin là có thể làm giảm nồng độ đường trong máu và giúp cơ thể chuyển hoá đường nhanh hơn. Khả năng này của hồng trà được xem là tương đương với trà xanh. (n)

Việc ăn thực phẩm có chứa quá nhiều đường như nước uống đóng chai hay bánh kẹo sẽ làm tăng lượng đường trong máu. Qua đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2. Thế nên khi uống hồng trà thì bạn không nên thêm đường hay sữa đặc có đường. Nếu dùng sữa tươi không đường và ít béo thì cũng được, nhưng uống nước trà không thì vẫn là tốt nhất.

Hồng trà có thể giúp ngăn ngừa bệnh HIV

Theaflavin có trong trà xanh được các nhà khoa học tin là có khả ngừa virus của bệnh HIV. Và họ tin rằng hồng trà có thể được sử dụng làm nguồn nguyên liệu để bào chế loại thuộc trị HIV giá rẻ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu thì các nhà khoa học đã chiết tách được theaflavin để tạo ra một chiết xuất hồng trà có chứa một hàm lượng rất cao theaflavin. Và họ sử dụng chiết xuất này để ngừa sự lan rộng của HIV trong cơ thể. Việc này khác với việc chúng ta uống hồng trà thông thường. (n)

Hồng trà giúp tăng cường chức năng não

Cũng giống như trà xanh thì hồng trà cũng có chứa caffeine và L-theanine. Caffeine là thành phần đã quá phổ biến, chất này giúp chúng ta tỉnh táo và tăng tập trung. Trong khi đó thì L-theanine giúp đầu óc thư giãn và làm tăng tập trung. Nghiên cứu chỉ ra rằng caffeine kết hợp với L-theanine là một sự kết hợp tuyệt vời giúp chúng ta tập trung tốt hơn. (n)

Một số nghiên cứu ngẫu nhiên cũng cho thấy việc uống hồng trà cũng làm tăng sự nhanh nhạy và tỉnh táo của não. Việc này được chứng minh khi nhóm tình nguyện uống hồng trà có độ nhanh nhạy cũng như tỉnh táo cao hơn so với nhóm uống giả dược. (n)

Hồng trà tốt cho sức khoẻ tim mạch

Hồng trà nói riêng và các loại trà làm từ cây trà nói chung đều có chứa một thành phần gọi là flavonoid. Thành phần này rất tốt cho tim mạch. không chỉ trà mà một số loại thực phẩm khác cũng có chứa flavonoid như rau xanh, trái cây, rượu vang đỏ và sô cô la đen. Uống hồng trà cũng như ăn các loại thực phẩm này thường xuyên giúp giảm huyết áp, giảm cholesterol, giảm chất béo trung tính và béo phì. (n)

Một nghiên cứu khác cho thấy uống ba tách hồng trà mỗi ngày giúp làm giảm nguy cơ mắc các bệnh về đường tim mạch lên đến 11%. (n)

Hồng trà tốt cho hệ tiêu hoá

Nhiều nghiên cứu cho thấy các loại vi khuẩn (tốt) sống trong ruột có sự ảnh hưởng rất lớn lên sức khoẻ của chúng ta. Các loại vi khuẩn này không chỉ hỗ trợ tiêu hoá mà còn giúp làm giảm một số loại bệnh như: các bệnh về đường ruột, bệnh tiểu đường loại 2, béo phì và một số loại bệnh ung thư nữa. (n)

Nhóm chất polyphenol được tìm thấy trong hồng trà sẽ giúp bạn có một hệ tiêu hoá khoẻ mạnh. Vì nhóm chất này hỗ trợ dự phát triển của nhóm vi khuẩn tốt và hạn chế hoạt đông của các loại vi khuẩn xấu. (n)

Tìm hiểu thêm về trà tại chuyên mục Kiến Thức Trà.

Nếu bạn là người yêu thích trà xanh Việt Nam. Bạn có thể tìm hiểu thêm về Trà Thái Nguyên tại đây.